Marcos 13

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Khi Chúa Giê-xu đang rời khỏi đền thờ, thì một trong các môn đệ thưa với Ngài, “Thầy xem kìa! Các tòa nhà thuộc đền thờ và các tảng đá đẹp ghê chưa?”
1 Jesu Tafaror Bar bihamiy ana veya, ana bai’ufununayah orot ta eo, “Bai’obaiyenayan kwi’itin! Kabay gewagewasin maiyow naatu bar hiwowowab ana’itin gewasin maiyow.”
2 Chúa Giê-xu bảo, “Các con có thấy các tòa nhà nguy nga nầy không? Rồi đây sẽ không có một tảng đá nào nằm chồng trên tảng đá khác. Tất cả đều sẽ đổ nhào xuống đất hết.”
2 Jesu iya’afut eo, “Iti bar gagamin kwi’i’itin boro men kafa’imo kabay ta ana efanamaim kwana’itinimih, etei boro nihururuw nara’iy nasawar.”
3 Sau đó, trong khi đang ngồi một mình với Phia-rơ, Gia-cơ, Giăng và Anh-rê trên núi Ô-liu đối diện đền thờ, họ hỏi Ngài,
3 Jesu yen in Olive Oyaw tafan Tafaror Bar batabat rounane imaim mare ma’am basit Peter, James, John naatu Andrew wa’iwa’iramaim hina biyan hitit,
4 “Xin thầy làm ơn nói cho chúng con biết khi nào những việc ấy xảy ra? Và có điềm gì cho biết các biến cố đó sắp xảy ra không?”
4 hibatiy, “Kuo anowar mar boro biy iti sawar hinamatar? Naatu ina’inanen boro abisa ni’obaiyi ana so’ob veya ina ebiyubin.”
5 Chúa Giê-xu bảo họ, “Các con hãy thận trọng để khỏi bị ai phỉnh gạt.
5 Imaibo Jesu hai tur eowen eo, “Mata toniwa’an men yait ta nan nikubibiruwimih.
6 Nhiều người sẽ mạo danh ta đến bảo rằng, ‘Ta là Chúa Cứu Thế.’ Họ sẽ phỉnh dỗ nhiều người.
6 Sabuw moumurih na’in boro ayu wabu’umaim hinao, ‘Ayu’uban iti!’ Naatu moumurih maiyow boro hinanawiyih hai ef hinasair.
7 Khi các con nghe giặc giã và tiếng đồn về giặc thì đừng sợ. Chuyện ấy sẽ đến nhưng chưa phải là tận thế đâu.
7 Baiyow nidun iti yubinamaim o ef yokamaim kwananonowar men kwanabir, sawar iti na’atube boro hinamatar, baise men kwananot mar yomanin i natit.
8 Dân nầy sẽ đánh dân khác, nước nọ nghịch nước kia. Nhiều nơi sẽ có động đất và đói kém. Nhưng đó chỉ là một vài nỗi khổ sơ khởi thôi.
8 Tafaram ta boro namisir tafaram ta hairi hiniyow, aiwob ta boro aiwob ta hairi hiniyow. Nati’imaim iriyoy tafaram etei boro nab, naatu baimar kakafin boro namatar. Iti sawar hinamamatar i babin taubumih kek ebobotukwar na’atube.
9 Các con phải cẩn thận. Người ta sẽ bắt các con, lôi ra trước tòa án và đánh đòn các con trong hội đường. Vì ta mà các con sẽ phải đứng trước mặt các vua, các nhà cầm quyền để làm chứng cho họ.
9 Kwa i kwanakaifi gewas mata toniwa’an, kwa boro hinafatumi naatu hinabuwi kwanan baibabatiyi isan, Kou’ay Baremaim boro hinaborabirabi, bonawiyenayah hai ukwarih naatu aiwob nahimaim kwanabat ayu wabu’umaim tur Gewasin hai tur kwana’owen.
10 Nhưng Tin Mừng nầy phải được truyền giảng cho muôn dân trước.
10 Baise wan tur gewasin tafaram wanawanan sabuw etei isah kwanabinan.
11 Khi các con bị bắt và bị đem ra xét xử, đừng lo là sẽ nói gì. Lúc ấy những lời phải nói sẽ được ban cho các con vì thật ra không phải các con nói nữa mà Thánh Linh nói.
11 Naatu hinafatumi baibabatiy isan kwananan men tur isan kwaniyababan kwanabirumih, tur o ana veya abisa a notamaim etitit i kwanao, anayabin men kwa kwao’omih, baise Anun Kakafiyin.
12 Anh sẽ gây cho em bị giết, cha mẹ sẽ làm cho con cái mình bị giết. Con cái sẽ nổi lên nghịch cha mẹ và gây cho cha mẹ bị giết.
12 “Oro’orot boro taiyuwih taituwah babah hinao hinamorob, regaregah boro natunatuh babah hinao hinamorob, kek boro hinitafasar hinah tamah babah hinao hinamorob.
13 Người ta sẽ ghét các con vì các con theo ta nhưng ai giữ vững niềm tin mình cho đến cuối cùng sẽ được cứu.
13 Sabuw etei boro hinifa’ifa’i anayabin ayu isou, baise orot yait nabatabatkikin yomaninamaim boro yawas nab.
14 Các con sẽ thấy ‘điều ghê tởm’ ở nơi không nên có—ai đọc chỗ nầy phải hiểu—Lúc ấy ai ở miền Giu-đia hãy chạy trốn lên núi.
14 “Gurugurusen ana sawar itinin birubir kakafin marasika nati’imaim men batabat boro nabatabat kwana’i’itin ana veya, sabuw iyab Judea tema’am boro hinabihir hin oyawamaim hinatit, o yait kubiyab iti tur anayabin i naso’ob.
15 Ai đang ở trên mái nhà thì đừng trèo xuống lấy đồ trong nhà đi.
15 Orot yait ana bar afe’en ema’am men narubir o nare ana bar wanawanan narun ana sawar nabow.
16 Ai đang ở ngoài đồng chớ trở về nhà lấy áo.
16 Orot yait ma masaw ebob men namatabir bar ana faifuw nabaimih,
17 Lúc ấy đàn bà đang mang thai và cho con bú là khốn khổ nhất!
17 Nati ana veya’amaim baibin iyab yah auman naatu kek tibitotomanen boro yababan gagamin maiyow hinab!
18 Các con hãy cầu nguyện để những biến cố ấy không xảy ra lúc mùa đông,
18 Kwanayoyoban saise iti sawar men yakukur ana veya namatar.
19 vì từ khi Thượng Đế tạo dựng vũ trụ cho tới bây giờ chưa bao giờ xảy ra cảnh khốn khổ như thế, và sau nầy cũng sẽ không hề có cảnh đó nữa.
19 Anayabin iti bai’akir kakafin boun emamatar i aneika God tafaram bimatar iti na’atube men matar naatu boro men namatar maiye.
20 Nếu Thượng Đế không rút ngắn thời gian khốn khổ ấy lại thì sẽ không có ai sống sót. Ngài đã thu ngắn thời gian đó lại vì những người Ngài đã chọn.
20 Baise Regah nati veya men tayayakabum na’at, sabuw boro men yawas hitab, baise i ana sabuw rurubiniyih isah iti veya yakabum.
21 Lúc ấy, nếu có ai bảo các con, ‘Đấng Cứu Thế đây nầy!’ Hoặc có ai nói, ‘Ngài ở đàng kia!’ thì đừng tin.
21 Naatu nati ana veya orot yait isa nao, ‘Kwanuw Keriso enan kwa’itin’, o iban ‘Iti ema’am!’ Men kwanitumitum.
22 Vì nhiều Đấng Cứu Thế giả và tiên tri giả sẽ xuất hiện và làm nhiều dấu kỳ cùng phép lạ. Nếu được họ sẽ tìm cách phỉnh dỗ chính những người được chọn.
22 Anayabin Keriso na’atube naatu dinab orot na’atube boro hinatit ina’inan ta ta, naatu baifofofor fairih hinasinaf sabuw hinabonawiyih hai ef hinasair, naatu hai ef nama’am na’at God ana roubinen sabuw auman boro hai ef hinawasa’ir.
23 Cho nên hãy cẩn thận. Ta đã bảo trước cho các con tất cả rồi.
23 Sawar iti etei isah ao kwanonowarabo namatar, imih kwanakaifi gewas!
24 Sau những ngày đại nạn ấy thì
24 Baise nati bai’akir hinamamatar ana veya,
25 Các ngôi sao ở trên trời sẽ rụng xuống.
25 daman auyomane boro hinihururuw hinare,
26 Rồi mọi người sẽ thấy Con Người hiện đến giữa mây trời đầy quyền uy và vinh quang cao cả.
26 “Nati ana veya’amaim Orot Natun boro kasakasaw wanawananamaim nanan kwana’itin ana fair bonamanamarin auman.
27 Ngài sẽ sai các thiên sứ Ngài đi khắp bốn phương thu nhóm tất cả mọi người được chọn từ chân trời đến cuối đất.
27 I boro ana tounamatar niyafarih hinatit tafaram tutufin wanawanan ana huhun etei kwafe’en imaim hinarun hinatit God ana roubiniyen sabuw hinabow hinan yomanin hinatit.
28 Hãy rút bài học từ cây vả: Khi nhánh nó đổi màu xanh và mềm, lá non trổ ra thì các con biết là mùa hạ sắp tới.
28 “Ai fofou rourinamaim ebi’obaiyi kwana’itin, ai famefamenamaim rourin narusasar kwana’i’itin kwa boro kwanao ai abeb ana veya tit,
29 Cũng vậy, khi thấy những biến cố ấy xảy ra thì các con phải biết là thời kỳ đã gần kề, sắp đến rồi.
29 ef i nati ta’imon sawar iti hinamatar kwana’i’itin, kwa i kwanaso’ob veya i nakabom, iyubin etawan awan ebatabat.
30 Ta bảo thật, thế hệ nầy sẽ không qua đi trước khi mọi điều ấy xảy đến.
30 Anababatun a tur ao’owen, sabuw iti tema’am boro hinama’am sawar namatar hina’itinibo hinamorob.
31 Trời và đất sẽ bị tiêu hủy nhưng lời ta nói sẽ không bao giờ bị tiêu hủy đâu.
31 Mar tafaram boro nasawar, baise ayu au tur boro men nasawar.”
32 Không ai biết được ngày giờ đó, ngay cả thiên sứ và Con cũng không biết. Chỉ một mình Cha biết mà thôi.
32 “Men yait ta veya o fur so’obamih, tounamatar no maramaim na’atube i Natun, baise Tamah akisinamo so’ob.
33 Hãy thận trọng! Luôn luôn sẵn sàng vì các con không biết lúc nào thời kỳ ấy xảy đến.
33 Mata toniwa’an kwanabat yewayew, anayabin veya men kwaso’ob mar biy boro namatar.
34 Giống như một người sắp lên đường đi xa. Ông ta ra đi và giao cho các đầy tớ trông nom cửa nhà, mỗi đầy tớ được giao một nhiệm vụ riêng. Chủ nhà dặn đứa đầy tớ gác cửa là phải luôn luôn canh chừng.
34 Ana itinin i nanawan orot na’atube, orot bainanawanamih ana’akir wairafih boro ta’ita’imon bowabow nitih. Naatu orot etawan kaifin isan ya’iyai boro nau, matan toniwa’an etawan nakaif nama.
35 Cho nên phải luôn sẵn sàng vì các con không biết lúc nào chủ nhà sẽ trở về. Có thể chiều, lúc nửa đêm, lúc gà gáy, hay lúc mặt trời mọc.
35 Imih mata toniwa’an, anayabin kwa men kwaso’ob orot bar matuwan i boro biy namatabir, rabirab nan, o fai inusabobor, kwasiy hinao ana veya, o yasi’uw,
36 Phải luôn luôn sẵn sàng. Nếu không bất chợt chủ nhà về thấy các con ngủ quên chăng?
36 naniyan meyemeye natitit na’at men kwana’inu’in natitamih.
37 Ta nói điều nầy với các con, ta cũng nói cho tất cả mọi người: ‘Phải sẵn sàng!’”
37 Abisa au’uwi, i sabuw etei isah ao’o, ‘Mata toniwa’an!’”

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Marcos 13, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.