Marcos 12

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Chúa Giê-xu dùng ngụ ngôn để dạy dỗ dân chúng. Ngài kể, “Người kia có một vườn nho. Ông xây tường chung quanh và đào một lỗ để đặt máy ép rượu, đồng thời xây một cái tháp canh. Sau đó ông cho một số tá điền thuê, rồi lên đường đi xa.
1 Imaibo Jesu oroubonamaim sabuw i’obaiyih eo, “Orot ana masaw bo ai ro’on tanum fur ear ituwafut, naatu wine bunubunuw ana hub bai, kaifenayan ana bar wowab sawar naatu sabuw afa tubunih hima masaw hikaif, masaw matuwan bainanawanamih in.
2 Đến mùa hái nho, chủ vườn sai một đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi.
2 Grape iyamur bairuhin ana veya, ana akir orot iyafar na masaw kaifenayah biyah tit ibo aunowan bairuhin isan.
3 Nhưng bọn tá điền bắt đầy tớ, đánh đập rồi đuổi về tay không.
3 Baise masaw kaifenayah akir orot hibai hirab uman en hiyafar matabir in.
4 Ông chủ liền sai một đầy tớ khác. Chúng đập đầu và nhục mạ người đầy tớ nầy.
4 Naatu masaw matuwan ibanak akir orot ta iyafar maiye na. Masaw kaifenayah akir orot hibai ukwarin hitut hi’a’afiy erebiya’ohow matabir.
5 Ông chủ sai một đầy tớ nữa đến, thì chúng giết chết. Ông chủ lại sai thêm nhiều đầy tớ khác nữa đến, thì chúng đánh người nầy, giết người nọ.
5 Masaw matuwan akir orot tabo iyafar maiye nan hibai hirab morob, naatu akir wairafih moumurih maiyow biyafarih afa hibow hirouw afa hibow hi’asbunubunuw himorob.
6 Sau cùng ông chủ chỉ còn có một người có thể sai được, đó là con trai yêu dấu của mình. Ông sai con đi và nghĩ bụng, ‘Có lẽ chúng nó sẽ nể con ta.’
6 “Orot ta’imonamo ihamiy ma’am i masaw matuwan natun ana yabow akisinamo, uftoro’ot iyafar not eo, ‘Natu boro hinakakafiy.’
7 Nhưng bọn tá điền bàn nhau, ‘Thằng nầy sẽ thừa hưởng vườn nho. Nếu chúng ta giết nó thì vườn nho sẽ thuộc về chúng ta.’
7 “Baise masaw kaifenayah orot natun nan hi’itin taiyuwih hio, ‘Masaw matuwan natunaban iti, kwana ta’asabun, saise sawar tanab it ninowat.’
8 Cho nên chúng bắt đứa con, giết chết rồi ném xác ra ngoài vườn nho.
8 Imih himisir kek hibai hirab morob naatu biyan hibai hisaroun masaw ufunane ra’iy.
9 Thế thì ông chủ vườn nho sẽ đối xử với bọn tá điền ấy ra sao? Ông ta sẽ đến giết hết bọn ấy rồi giao vườn nho cho người khác.
9 “Masaw matuwan iti tur nanonowar boro mi’itube nasinaf? Orot boro nan masaw kaifenayah nabow narouw hinamorob naatu masaw boro nab sabuw afa nitih hinama hinakaif.
10 Chắc hẳn các ông đã đọc lời Thánh Kinh:
10 Buk iti na’atube hikikirum kwaiyab kwa’itin,
11 Đó là điều Chúa làm
11 Iti i Regah sinaf matar
12 Các lãnh tụ Do-thái hiểu ngay là ngụ ngôn ấy ám chỉ họ. Họ muốn bắt Chúa Giê-xu nhưng sợ dân chúng, nên bỏ đi.
12 Basit Jew ukwarih hikok Jesu hitab hitarab, anayabin iti oroubon eo’o ana naniyan hibaib i isah eo, baise rou’ay gagamin isan hibir, imih Jesu hihamiy in.
13 Sau đó họ cho vài người Pha-ri-xi và đảng viên Hê-rốt đến gặp Chúa Giê-xu để gài bẫy Ngài trong lời nói.
13 Pharisee afa naatu Herod ana kou’ay sabuw afa auman hiyafarih hin Jesu biyan hitit baibatemaim baikubibiruwin isan.
14 Họ đến cùng Ngài và hỏi, “Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là người chân thật. Thầy không cần biết người ta nghĩ gì về mình, vì thầy không đánh giá bề ngoài của họ. Thầy luôn luôn dạy sự thật theo đường lối của Thượng Đế. Xin thầy vui lòng cho biết: Chúng ta có nên đóng thuế cho Xê-xa không? Chúng ta nên đóng hay không nên đóng?”
14 Hina biyan hitit naatu hio, “Bai’obaiyenayan aki aso’ob o abisa kuo’o i turobe, sabuw abisa tisisinaf isan men kunotanot, naatu sabuw hai not o men kui’itin, baise turobe God ana kok abisa sabuw kubi’obaiyih. Kuo anowar Caesar isan kabay ana bibaiyan boro ata ofafar ana astu’ub ai en?
15 Biết ác ý của họ nên Chúa Giê-xu bảo “Sao các ông tìm cách đánh bẫy ta? Đưa ta xem một đồng tiền.”
15 Imih kabay anayai ai en?” Baise Jesu hai baifuwen itin naatu eo, “Aisim ayu kwabikubibiruwu? Kabay kwabai kwana kwai’obaiyu aitin.”
16 Họ chìa ra cho Ngài xem một đồng tiền. Ngài hỏi, “Hình và danh hiệu trên đồng tiền nầy là của ai?” Họ đáp, “Của Xê-xa.”
16 Kabay hibai hina hitin naatu ibatiyih, “Yait ana yumat naatu wabin?”
17 Chúa Giê-xu bảo họ, “Nếu thế thì cái gì của Xê-xa hãy trả lại cho Xê-xa, còn cái gì của Thượng Đế hãy trả lại cho Thượng Đế.” Bọn họ rất kinh ngạc về điều Chúa Giê-xu nói.
17 Imaibo Jesu iuwih eo, “Abisa Caesar nowan Caesar kwanitin, abisa God nowan God kwanitin.”
18 Lúc ấy có mấy người Xa-đu-xê đến gặp Chúa Giê-xu. Người Xa-đu-xê không tin có sự sống lại từ trong kẻ chết.
18 Imaibo Sadducee morobone misir maiye isan men tibitumatum hina Jesu biyan hitit hibatiy.
19 Họ hỏi, “Thưa thầy, Mô-se viết rằng nếu người nào có anh qua đời để vợ lại không con, thì người em trai phải lấy chị dâu góa ấy để sinh con nối dòng cho anh mình.
19 “Bai’obaiyenayan Moses aki isai ofafar iti kirum, ‘Orot natabin natun en namomorob na’at, kwafur i boro orot ta ni’aawan saise kek hinatufuw tuwah momorob efanin.’
20 Trong chuyện nầy có bảy anh em. Người anh cả lấy vợ rồi chết không con.
20 Imih marasika orot ain uf nah etei seven hima’am, basit orot ain tabin natun en morob.
21 Người em thứ hai lấy chị dâu góa ấy. Nhưng người em cũng chết không con. Đến lượt người em thứ ba cũng vậy.
21 Naatu orot ufunamaim tuwah ana kwafur i’aawan, ibo na’atube kek en morob. Ef ta’imon matar orot founamaim,
22 Bảy người đều lấy người đàn bà ấy rồi qua đời nhưng không ai có con. Sau cùng người đàn bà cũng chết.
22 naatu etei’imak nah seven babin hi’aawan aurih kek en himumurub, uftoro’ot babin morob.
23 Thế thì đến ngày sống lại, chị ấy sẽ là vợ của ai vì tất cả bảy người đều đã lấy chị ta?”
23 Morobone hina mimisir ana veya babin i boro orot menatan ni’aawan? Anayabin nah seven etei babin ta’imon hi’aawan.”
24 Chúa Giê-xu đáp, “Các ông lầm vì không hiểu lời Thánh Kinh cũng không hiểu quyền năng của Thượng Đế.
24 Jesu iyafutih eo, “Kwa i anot hikwaris! Anayabin kwa Buk Atamanin hikikirum men kwaiyab naatu God ana fair auman men kwaso’ob?
25 Khi người ta sống lại từ trong kẻ chết thì chẳng còn cưới gả gì nữa vì ai nấy đều giống như thiên sứ trên trời vậy.
25 Morobone misir maiye ufunamaim tabin men ema’am, sabuw etei boro mar ana tounamatar na’atube hinama.
26 Còn về những người sống lại từ trong kẻ chết thì các ông chưa đọc trong quyển sách Mô-se viết về bụi cây cháy sao? Trong đó ghi lời Thượng Đế phán với Mô-se, ‘Ta là Thượng Đế của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia cốp.’
26 Naatu morobone misir maiye isan Moses ana buk kutor wairaf ea’arah isan nati’imaim kikirum kwaiyab kwa’itin? God iti na’atube eo, ‘Ayu i Abraham ana God, Isaac ana God naatu Jacob ana God.’
27 Thượng Đế là Thượng Đế của người sống chứ không phải của người chết. Các ông lầm to rồi!”
27 I men murubih hai Godamih, baise yawasih hai God, kwa i anababatun ef kwasa’ir!”
28 Một trong các giáo sư luật đến nghe Chúa Giê-xu biện luận với người Xa-đu-xê. Khi thấy Ngài khéo trả lời câu hỏi của họ, ông mới hỏi Ngài, “Trong tất cả các mệnh lệnh, điều nào quan trọng nhất?”
28 Ofafar bai’ubaiyenayan ta nati’imaim ma tur nonowar Jesu tur gewasin Sadducee biya’afut itin, na Jesu ibatiy. “Ofafar tur etei wanawanahimaim tur menatan i gagamin?”
29 Chúa Giê-xu đáp, “Mệnh lệnh quan trọng nhất như sau: ‘Toàn dân Ít-ra-en nghe đây! Thượng Đế, Chúa chúng ta chỉ có một mà thôi.
29 Jesu iya’afut eo, “Ofafar tur gagamin i iti, kwananowar Israel sabuw, Regah ata God akisinamo ata Regah.
30 Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí, hết sức mà yêu mến Ngài.’
30 Regah a God isan iniyabow, dogor tutufin etei, ayub tutufin etei, a not tutufin etei naatu a fair tutufin etei.
31 Còn điều thứ nhì như sau, ‘Ngươi hãy yêu thương người láng giềng như mình vậy.’ Không có mệnh lệnh nào quan trọng hơn hai điều đó.”
31 Naatu ofafar gagamin bairou’abin i iti, ‘taituwa isah iniyabow o taiyuw isa kubiyabow na’atube.’ Ofafar iti rou’ab i gagamih ofafar etei hinatabirih.”
32 Giáo sư ấy thưa, “Thưa thầy, thầy đáp đúng vì Thượng Đế là Chúa duy nhất, ngoài Ngài không có Chúa nào khác.
32 Orot eo, “Abisa kuo i turobe bai’obaiyenayan, Regah akisinamo i God men god afa.
33 Mọi người phải hết lòng, hết trí, hết sức mà yêu mến Ngài. Và rằng ai cũng phải yêu người láng giềng như mình. Hai mệnh lệnh đó quan trọng hơn tất cả những sinh tế và của lễ.”
33 Imih dogor tutufin etei, a not tutufin etei naatu a fair tutufin etei a God isan iniyabow naatu taituwa isah inabiyabow o isa kubiyabow na’atube, iti ofafar rou’ab i gagamih men for kwarouw sibor kwa’a’afusar na’atube naatu men sibor afa God isan kwaya’ay na’atube’emih.”
34 Thấy ông ta trả lời khôn ngoan như thế, Ngài bảo, “Ông hiện rất gần với Nước Trời.” Sau đó, không ai dám hỏi Ngài câu nào nữa.
34 Jesu orot ana baiya’afot i’itin i so’ob, iti orot i not wairafin, imih eo, “God ana aiwobomaim o men yokaika kuma’am.” Nati ufunamaim men yait ta Jesu isan baibat afa bow na ibaitiyimih.
35 Khi đang dạy dỗ trong đền thờ thì Chúa Giê-xu hỏi, “Tại sao các giáo sư luật bảo Chúa Cứu Thế là con vua Đa-vít?
35 Jesu Tafaror Baremaim ma bi’obaibiyih basit ibatiyih, “Aisim Ofafar bai’obaiyenayah Keriso isan i David ana agirane na hirouw teo’o?
36 Chính Đa-vít cảm nhận Thánh Linh và nói rằng:
36 David Anun Kakafiyin biwan ana veya iti na’atube eorereb,
37 Nếu Đa-vít gọi Đấng Cứu Thế là Chúa thì làm sao Ngài là con vua ấy được?” Đoàn dân rất thích nghe Ngài.
37 David taiyuwin Keriso isan i ana ‘Regah’ rouw eo, naatu mi’itube boro Keriso David ana agirane nan?”
38 Chúa Giê-xu tiếp tục dạy dỗ nữa. Ngài bảo, “Hãy thận trọng về các giáo sư luật. Họ thích mặc áo quần sang trọng đi dạo phố, muốn người ta kính cẩn chào mình giữa chợ.
38 Jesu ma bi’obaibiyih eo, “Mata toniwa’an Ofafar bai’obaiyenayah isah, i hai kok faifuw manimanih hina’osen hinaremor naatu ahar efanamaim sabuw merarayow hinitih,
39 Họ ưa ngồi chỗ cao trọng nhất trong hội đường và các đám tiệc.
39 Kou’ay Baremaim urama’ama yayasairen i tebowabow naatu hiyuw ana veya efan gewasih tebowabow.
40 Nhưng họ cướp đoạt nhà cửa của các đàn bà góa mà làm bộ đạo mạo bằng cách đọc lời cầu nguyện cho dài. Họ sẽ bị trừng phạt nặng hơn.”
40 Kwafukwafur baibin tifufuwih hai sawar tebowabow naatu hai itinin baigewasin isan yoyoban manimanih teyoyoyoban, imih hai baimakiy kakafin anababatun boro hinab!”
41 Chúa Giê-xu ngồi gần hộp dâng hiến trong đền thờ để xem người ta bỏ tiền vào. Lắm người giàu bỏ vào thật nhiều tiền.
41 Jesu Tafaror Bar ana kabay teya’ay sisibinamaim mare ma sabuw itih hai siwar hiya’ay. Sabuw totobuyoy wairafih kabay gagaminaka hiya.
42 Rồi có một góa phụ nghèo bước đến bỏ vào hai đồng tiền chỉ đáng vài xu.
42 Baise kwafur babin yababan wairafin na ana kabay gidigidih rou’ab tew wanawanan iwan ana fofonin one toea na’atube.
43 Chúa Giê-xu gọi các môn đệ lại bảo rằng, “Ta bảo thật, bà góa nghèo nầy đã dâng nhiều hơn tất cả những người giàu kia.
43 Jesu ana bai’ufununayah eaf ayuwih hina hai tur eowen eo, “Anababatun a tur ao’owen, iti kwafur babin ana siwar tew biwan i gagamin na’in sabuw etei hiya’iy natabirih.
44 Vì họ dâng phần dư của họ, nhưng bà góa nầy tuy rất nghèo túng nhưng đã dâng hết của mình có, là của để nuôi thân.”
44 Afa hiya’aya i aurih karam turin hiyai turin hibotan, baise kwafur babin yababan wairafin abisa biyan ma’am etei’imak bai na yai.”

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Marcos 12, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.