Marcos 10

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Chúa Giê-xu rời nơi ấy đi đến miền Giu-đia và vùng phía Đông sông Giô-đanh. Một lần nữa dân chúng lại tụ tập quanh Ngài, rồi Ngài dạy dỗ họ như vẫn thường làm.
1 Jesu nati efan ihamiy harew Jordan rabon rewan rounane Judea wanawananamaim tit. Ibanak maiye sabuw rou’ay gagamin maiyow hiru’ay naatu Jesu ana yawas mar etei esisinaf na’atube ma i’obaibiyih.
2 Có vài người Pha-ri-xi đến gặp Chúa Giê-xu và hỏi để thử Ngài, “Người đàn ông có quyền ly dị vợ hay không?”
2 Pharisee afa hina Jesu biyan hitit naatu hisinaftobon hitikubibiruw isan hibatiy hi’o, “Ku’o anowar ai ofafar eo i karam orot aawan boro nakwahir?”
3 Chúa Giê-xu đáp, “Mô-se truyền điều gì cho các ông?”
3 Jesu ibatiyih eo, “Moses ana ofafaramaim mi’itube eobaiyuni?”
4 Họ đáp, “Mô-se cho phép người đàn ông viết giấy ly dị và đuổi vợ đi.”
4 Hiya’afut hi’o, “Aki Moses ibasit orot aawan kwahirin isan boro kwahikwahiren ana fef nakirum babin nitin nab auman nan.”
5 Chúa Giê-xu bảo, “Mô-se viết luật ấy cho các ông, vì các ông ương ngạnh.
5 Baise Jesu iya’afutih eo, “Moses iti ofafar kirum, anayabin kwa obai’obaiyen tur nowar isan dogor i fokar kwanekwan.
6 Nhưng ban đầu khi Thượng Đế sáng tạo thế giới, ‘Ngài dựng nên người nam và người nữ.’
6 Baise aneika mar tafaram mamatar ana veya God ‘Orot babin hairi sinafen himatar.’
7 ‘Vì thế, người nam sẽ rời cha mẹ mà kết hợp với vợ mình,
7 ‘Ana an nati isan orot boro hinah tamah nihamiyih naatu i boro aawan hairi hinita’imon.
8 hai người sẽ trở thành một thân mà thôi.’ Cho nên họ không còn là hai người nữa mà là một.
8 Naatu rou’ab boro nan biyah ta’imon namatar.’ Imih i boro men biyah rou’ab baise biyah ta’imon.
9 Thượng Đế đã kết hợp hai người thì không ai được phân rẽ họ.”
9 Isan imih orot babin hairi God bita’imonih men yait ta natarbounih.”
10 Sau đó khi vào nhà, các môn đệ hỏi Ngài thêm về vấn đề ấy.
10 Imaibo himatabir hin bar hititit ana veya Jesu ana bai’ufununayah hibatiy, “Iti tur anayabin i abisa?”
11 Ngài đáp, “Người nào ly dị vợ mà lấy người đàn bà khác là phạm tội ngoại tình với vợ mình.
11 Hai tur eowen eo, “Orot yait ta a wan nakwahir nare babin ta nabaib ana moser i takweb.
12 Còn người đàn bà nào ly dị chồng mà lấy người đàn ông khác cũng phạm tội ngoại tình.”
12 Na’atube babin yait aawan nakwahir, nare orot ta nabaib ana moser i takweb.”
13 Có một số người mang các trẻ thơ đến cùng Chúa Giê-xu để Ngài đặt tay lên chúng nó, nhưng các môn đệ ngăn cấm.
13 Sabuw afa kek gidigidih hibow Jesu butubunih isan hinan, ana bai’ufununayah sabuw hikwararih hiotanih.
14 Chúa Giê-xu thấy vậy không bằng lòng, mới bảo họ rằng, “Hãy để các trẻ thơ đến cùng ta, đừng ngăn cấm, vì Nước Trời thuộc về những ai có tấm lòng như chúng nó.
14 Baise Jesu iti i’itin ana veya men iyasisir, naatu ana bai’ufununayah isah eo, “Kek gidigidih kwaihamiyih tena isou men kwanarufutih, anayabin God ana aiwob i kek gidigidih iti na’atube i nowah.
15 Ta bảo thật, các con phải tiếp nhận Nước Trời giống như trẻ thơ, nếu không các con sẽ không thể vào đó được đâu.”
15 Anababatun a tur ao’owen, o yait God ana aiwobomaim runamih, inayare ana itinin kek gidigidih inamamatar boro inarun.”
16 Rồi Ngài bồng ẵm chúng nó, đặt tay lên và chúc phước cho.
16 Imaibo Jesu kek gidigidih buwih uman tafah yara’aten naatu igegewasinih.
17 Khi Chúa Giê-xu sắp rời nơi ấy thì có một người chạy lại quì gối trước mặt Ngài và nói rằng, “Thưa thầy nhân đức, tôi phải làm gì để được sống đời đời?”
17 Jesu misir busuruf inan auman, orot ta nunuw na Jesu nanamaim tit sun yowen, ibatiy, “Bai’obaiyenayan gewas, abisa ana sinaf boro yawas wanatowan nowau’umih namatar?”
18 Chúa Giê-xu đáp, “Sao anh gọi ta là nhân đức? Chỉ có một mình Thượng Đế là nhân đức thôi.
18 Jesu iya’afut eo, “Aisimamih ayu gewasu irouw ku’o? God akisinamo i gewasin men yait ta.
19 Anh biết các mệnh lệnh ‘Không được giết người. Không được ngoại tình. Không được trộm cắp. Không được làm chứng dối. Không được lường gạt. Phải tôn kính cha mẹ.’”
19 Ofafar o iso’ob. ‘Men asabunuwen isa nama, men turanah a’aawah ufuh inan, men inabain, men inakutabitabir, men inifufuwen, hinat tamat inabosiyasiyarih.’”
20 Anh đáp, “Thưa thầy, tôi đã vâng giữ những điều ấy từ khi còn nhỏ.”
20 Orot eo, “Bai’obaiyenayan, ayu kek kikimu ana veya iti ofafar etei’imak abosiyasiyar.”
21 Chúa Giê-xu âu yếm nhìn anh và bảo, “Anh còn thiếu một điều. Hãy bán hết của cải anh có, lấy tiền ấy phân phát cho người nghèo, thì anh sẽ có của báu trên thiên đàng. Rồi đến theo ta.”
21 Jesu mutufor nuw orot itin naatu isan yabow auman iu, “Sawar ta’imonamo men isinaf. Inan a sawar etei sabuw hinatobon, kabay inab gagaganiy sabuw initih naatu o inan ayu i ni’ufnunu, saise maramaim o boro guguw wairafi inama.”
22 Khi nghe Chúa Giê-xu nói thế anh ta tỏ vẻ buồn nản thất vọng. Anh ủ rũ bỏ đi vì anh rất giàu.
22 Orot iti tur nonowar anamaramaim gubamin hurir naatu ereyababan auman in anayabin orot i guguw wairafin.
23 Chúa Giê-xu nhìn quanh và bảo các môn đệ rằng, “Thật khó cho người giàu vào Nước Trời!”
23 Imaibo Jesu tatabir ana bai’ufununayah isah eo, “Guguw wairafih God ana aiwob efanamaim run isan i fokar kwanekwan.”
24 Các môn đệ vô cùng ngạc nhiên về lời ấy. Ngài tiếp, “Các con ơi, vào Nước Trời không dễ đâu!
24 Bai’ufununayah iti tur hinonowar hifofofor men kafaita, baise Jesu ibanak eo maiye, “Ayu natunatu, God ana aiwob run isan ana ef i fokar anababatun.
25 Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Trời.”
25 Sinak ana sou’umaim camel sorabon isan i hamehamen maiyow boro nasorabon, baise orot guguw wairafih God ana aiwobomaim run isan i fokar kwanekwan.”
26 Các môn đệ lại còn ngạc nhiên hơn nữa và hỏi nhau, “Thế thì ai được cứu?”
26 Iti tur hinonowar bai’ufununayah hikasiy men kafaita naatu taiyuwih hima hibabatiyih, “Yait boro yawas nab?”
27 Chúa Giê-xu nhìn họ bảo rằng, “Điều gì con người không làm được thì Thượng Đế làm được. Thượng Đế làm điều gì cũng được cả.”
27 Jesu mutuforomo nuw itih naatu iya’afutih eo, “Sabuw isah iti i fokar, baise God isan i hamehamen maiyow, anayabin sawar etei God boro nasinaf hinamatar.”
28 Phia-rơ thưa với Ngài, “Thầy xem, chúng con đã bỏ tất cả để theo thầy.”
28 Peter Jesu isan eo, “Kwi’itin aki sawar etei aihamiyen naatu o abi’ufnuni.”
29 Chúa Giê-xu bảo, “Ta bảo thật, không ai rời bỏ nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng vì ta và vì Tin Mừng
29 Jesu eo, “Anababatun a tur ao’owen, yait ta ana bar, taintuwan, ruburubun, hinah, tamah, natunatun, naatu ana tafaram ihamiyen, na’atube ayu isou naatu tur gewasin isan iti sawar bihamiyen.
30 mà không nhận được gấp trăm lần trong đời nầy—nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng cùng với những sự ngược đãi, và được sống đời đời trong tương lai.
30 Iti boun ana veya i boro ana bar, taintuwan, ruburubun, hinahinah, natunatun naatu ana me etei i boro hundred ta’ita’imon tafan anayababar anitin, bai’akir kakafin auman, yomaninamaim boro yawas wanatowan nab.
31 Người nào hiện ở hàng đầu sẽ bị xuống chót, còn người hiện ở hàng chót sẽ lên đầu.”
31 Baise sabuw moumurih maiyow boun wan tibi’iyon boro hini’uf naatu sabuw iyab tibi’uf boro hini’iyon.”
32 Trong khi họ đang lên Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-xu đi trước. Các môn đệ thì sửng sốt còn những người đồng hành khác thì hoảng sợ. Một lần nữa Chúa Giê-xu đem riêng mười hai môn đệ ra, và bắt đầu cho họ biết những việc gì sẽ xảy đến cho Ngài.
32 Jesu ana bai’ufununayah bairi hitit Jerusalem ana ef hibai naatu Jesu ana bai’ufununayah aunah i’iyon, ana bai’ufununayah ufun hinan hinuw hi’i’itin ana veya hai kasiy ra’at, naatu sabuw iyab hibi’ufunun hai bir ra’at. Jesu ana bai’ufununayah 12 buwih nabinamaim hin naatu busuruf hai tur eowen sawar boro mi’itube hinamamatar isan.
33 Ngài bảo, “Nầy, chúng ta đang đi lên Giê-ru-sa-lem. Con Người sẽ bị trao vào tay các giới trưởng tế và các giáo sư luật. Họ sẽ tuyên án xử tử Ngài rồi giao Ngài cho dân ngoại quốc.
33 Hai tur eowen eo, “Kwananowar, it i au Jerusalem tayey nati’imaim Orot Natun boro hinabonawiy nan firis hai ukwarih naatu Ofafar bai’obaiyenayah biyah natit. Imaim boro morobomih hinao naatu hinabonawiy nan Eteni Sabuw biyah.
34 Chúng sẽ chế nhạo, phỉ nhổ, đánh đòn rồi giết Ngài. Nhưng đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại.”
34 Imaim hini’i’iyab, hinakwaitututur, hinarab, naatu hina’asabun namorob, baise veya tounu ufunamaim i boro nayawas na misir maiye.”
35 Lúc ấy Gia-cơ và Giăng, hai con trai của Xê-bê-đê đến xin Chúa Giê-xu, “Thưa thầy, chúng con muốn xin thầy làm cho một điều.”
35 Zebedee natunatun rou’ab, James naatu John hairi hina Jesu biyan hitit naatu hifefeyan, “Bai’obaiyenayan aki akokok abisa isan anabifefeyani inasinaf.”
36 Chúa Giê-xu hỏi, “Các con muốn ta làm điều gì cho các con?”
36 Jesu ibatiyih, “Bo abistan kwakokok boro isa anasinaf?”
37 Họ thưa, “Xin cho chúng con một đứa ngồi bên phải, một đứa ngồi bên trái thầy, trong vinh quang của thầy.”
37 Hiya’afut hi’o, “O a aiwob ana bonamanamarinamaim inabi’ukwarin ana veya, aki akokok ina’uwi ta uma a’asukwafune namare ta uma a beyawane namare.”
38 Chúa Giê-xu bảo, “Các con không hiểu điều mình xin. Các con có uống được ly đau khổ ta sắp uống không? Và các con có chịu được phép báp-têm ta sắp chịu không?”
38 Jesu iyafutih eo, “Kwa men kwaso’ob abistan isan kwabifefeyan? Karam biyababan ana kerowas ana tomatom boro kwanatom? Naatu morob wanawanan anarun ana momorob boro kwanarun?”
39 Họ thưa, “Dạ được.”
39 Hiya’afut hi’o, “Aki karam.” Jesu uwih eo, “Biyababan ana harew i karam boro kwanatom naatu morob wanawanan boro kwanarun.
40 Nhưng ta không có quyền chọn người ngồi bên phải hoặc bên trái ta; hai chỗ ấy dành cho người nào đã được Thượng Đế chuẩn bị trước.”
40 Baise o ta au asukwafune mare naatu ta au beyawane mare i men karam boro ayu kwa anit. Nati i sabuw iyabowat God isah yayabuna boro nitih.”
41 Khi mười môn đệ kia nghe chuyện ấy thì bất bình với Gia-cơ và Giăng.
41 Bai’ufununayah nah ten iti tur hinonowar yah so’ar, James, John hairi isah.
42 Ngài gọi họ lại và dạy rằng, “Những người cầm quyền của dân ngoại quốc thích cai trị dân, còn các đại quan thì thích tỏ quyền hành trên dân chúng.
42 Basit Jesu etei’imak eafayuwih hina biyan hitit naatu uwih eo, “Eteni Sabuw wanawanahimaim orot hirurubin akisinamo ana fair ema’am boro sabuw nakaifih, naatu i akisinamo ana fairamaim boro nabonawiyih.
43 Nhưng đối với các con, thì không nên như thế. Ai muốn làm lớn trong vòng các con, thì phải làm tôi tớ.
43 Baise kwa wanawananamaim iti na’atube i men ema’ama, o yait kukokok iti kou’ay wanawanan orot gagam mataramih, o i boro turanah isah ini’akir inabow.
44 Ai muốn làm đầu trong các con phải như nô lệ vậy.
44 naatu o yait kukokok iti kou’ay wanawanan wan bai’iyonamih, o i boro bai’akirayan inamatar.
45 Cũng như Con Người đến không phải để được người khác phục vụ mình, mà để phục vụ người khác và hi sinh mạng sống mình để cứu vớt nhiều người.”
45 Anayabin Orot Natun i men sabuw isan bowamih na; baise sabuw isah nabow ana yawas isah ni’inuw, saise sabuw moumurih natubunih.”
46 Sau đó họ đến thành Giê-ri-cô. Khi Chúa Giê-xu cùng các môn đệ sắp rời nơi ấy cùng với đoàn dân thì có một người ăn xin mù tên Ba-ti-mê, con của Ti-mê, đang ngồi bên đường.
46 Hina tafaram Jericho hitit, naatu Jesu ana bai’ufununayah bairi nati efan baihamiyinamih sabuw rou’ay gagamin maiyow hiru’ay, naatu orot matan fim fefeyanayan wabin Bartimais, Timias natun ef sisibinamaim ma’am.
47 Khi nghe Chúa Giê-xu người Na-xa-rét đi ngang qua anh liền kêu lớn “Giê-xu, con của Đa-vít ơi, xin thương xót tôi!”
47 Jesu Nasaret mowan na inan hi’o nowar. Basit eaf, “Jesu David uwan kwiwanbabanu!”
48 Nhiều người trong đoàn dân quở anh mù để anh im đi nhưng anh lại la lớn hơn nữa, “Con Đa-vít ơi, xin thương tôi!”
48 Sabuw moumurin maiyow orot matan fim hi’u awan fotamih. Baise men karam fanan aumetawat iwow eaf, “David uwan kwiwanbabanu!”
49 Chúa Giê-xu dừng lại bảo, “Gọi anh ta đến đây.”
49 Jesu an kutan naatu eo, “Kwa’af kwa’u ena.” Basit orot matan fim isan hi’af, “Yate inbainub! Kumisir, isa eafa’af.”
50 Người mù liền nhảy lên, quăng áo choàng lại và đến cùng Chúa Giê-xu.
50 Orot duku iwa’an misir ana faifuw tafan bosair yare remor na Jesu biyan tit.
51 Chúa Giê-xu hỏi, “Anh muốn ta làm gì cho anh đây?”
51 Jesu ibatiy, “Abistan kukokok o isa ana sinaf?” Matan fim iya’afut eo, “Bai’obaibiyenayan ayu akokok matu nigewasin ananuw maiye.”
52 Chúa Giê-xu bảo, “Hãy đi, đức tin anh đã chữa lành anh.” Lập tức người mù được sáng mắt và đi theo Chúa Giê-xu trên đường.
52 Jesu iu eo, “Kwen o abaitumatumamaim iyawasi.” Mar ta’imon matan igewasin nuw naatu busuruf Jesu efamaim inan i’ufunun hairi hin.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Marcos 10, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.