Lucas 9
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Chúa Giê-xu gọi mười hai môn đệ lại và ban cho họ quyền năng trị mọi tà ma và năng lực chữa bệnh.
1 Jesu ana bai’ufununayah etei I2 eaf ayuwih hina hitit, demon kakafih nunih isan, naatu sawow yumatah ta ta bosaisiren isan fair itih, naatu eonowahih.
2 Ngài sai họ ra đi rao giảng về Nước Trời và chữa lành những người đau yếu.
2 Imaibo God ana aiwob binan isan naatu sawusawuwih baiyawasih isan iyafarih hitit hin.
3 Ngài dặn họ, “Đừng mang đồ gì theo, đừng mang gậy, túi, bánh, tiền bạc hay quần áo dư.
3 Naatu iuwih, “A nanawan isan kwanatitit ana maramaim men sawar afa kwanabow auman kwananamih, men hafoy, tu, kabay, bay, o wanabir.
4 Khi vào nhà nào các con hãy ở đó cho đến khi đi.
4 Kwananan sabuw iyab hina’iti a merar hinay hinabubuwi na’at, nati bar meraramaim kwanama a bowabow kwanisawar imaibo kwanatit.
5 Nếu dân chúng không tiếp đón các con, thì hãy phủi bụi nơi chân khi các con rời tỉnh đó, để làm dấu cảnh cáo họ.”
5 Baise sabuw men a merar hinay hinabubuwi na’at, a fofob kwanarutatab nare naatu nati bar merar kwanihamiy kwanatit, baimatnuwen ana orereb na’atube.”
6 Các sứ đồ ra đi thăm các thành, các làng mạc, rao giảng Tin Mừng và chữa lành người bệnh khắp nơi.
6 Imaibo bai’ufununayah hitit hin bar awan, awan hirun hitit God ana aiwob isan tur gewasin hibinan naatu sawusawuwih hiyayawasih.
7 Hê-rốt, vua chư hầu, nghe được mọi chuyện, đâm ra hoang mang vì có người nói, “Giăng Báp-tít đã từ kẻ chết sống lại.”
7 Herod, Galilee sabuw hai aiwob orot, sawar iti himamatar hai tur nonowar ana veya ana kasiy ra’at, anayabin sabuw afa hio John Baptist morobone matabir maiye,
8 Người khác thì nói, “Ê-li đã xuất hiện giữa chúng ta.” Còn người khác nữa lại nói, “Một trong các nhà tiên tri đời xưa sống lại từ trong kẻ chết.”
8 sabuw afa hio, Elijah marane ra’iy, sabuw afa hio, “Dinab orot ta marasika momorob i yawas maiye matabir na.”
9 Hê-rốt nói, “Ta đã chém đầu Giăng, thế thì người nầy là ai mà nghe đồn rất nhiều?” Cho nên Hê-rốt tìm cách gặp Chúa Giê-xu.
9 Baise Herod eo, “Ayu taiyuwu aso’ob John i ayu sikan ao hi’afuw, naatu iti orot i yait iti bowabow sinaf ana tur anonowar?” Iti na’atube eo naatu kok i orot ana yumat itinamih nuwih.
10 Các sứ đồ trở về, tường thuật lại cho Chúa Giê-xu mọi điều họ làm. Sau đó Ngài mang họ cùng với Ngài đi đến một tỉnh gọi là Bết-xai-đa, để có thì giờ riêng tư với nhau.
10 Jesu ana tur abarayah himatabir hina hitit, sawar abisa’awat hisisinaf ana tur hi’owen. Naatu nawiyih hitit akisihimo hin tafaram wabin Bethsaida imaim hima.
11 Nhưng dân chúng nghe nói Chúa Giê-xu sắp đến, liền đi theo Ngài. Ngài tiếp họ và giảng cho họ nghe về Nước Trời, đồng thời chữa những người cần được chữa lành.
11 Baise sabuw maumurih na’in Jesu au Bethsaida inan ana tur hinowar, naatu hi’ufunun hin biyan hitit. Hai merar yi God ana aiwob isan binan hinowar naatu sawusawuwih iyawasih.
12 Lúc xế chiều, mười hai sứ đồ đến thưa với Ngài, “Xin thầy cho dân chúng về để họ đi vào các tỉnh và vùng quê quanh đây kiếm chỗ nghỉ ngơi và mua thức ăn vì chỗ nầy hoang vắng lắm.”
12 Veya re birabirab auman bai’ufununayah 12 hin Jesu hiu, “Sabuw kwiyafarih ten bar iti yubinamaim naatu masawabar iti yubinamaim taituwah tema’am biyah bay hinanuwet hinabow hinaa, naatu efan auman hinanuwet fai hina’in, anayabin iti efan i owararin.”
13 Nhưng Chúa Giê-xu bảo họ, “Các con phải cho họ ăn.”
13 Baise Jesu iuwih, “Bay i boro kwa kwanitih hinaa.” Bai’ufununayah hiya’afut, “Rafiy fafar umat roun naatu siy rou’abamo efanamaim ti’inu’in. Kukokok aki anan sabuw etei’imak isah bay anatobon?”
14 Có khoảng năm ngàn người đàn ông tại đó.
14 Sabuw nati’imaim hiru’ay hima tur hinonowar nah etei i 5,000 na’atube. Jesu ana bai’ufununayah iuwih, “Sabuw kwa’uwih nah 50 na’atube kou’ay tata’amaim timarir.”
15 Họ làm theo, và mọi người ngồi xuống.
15 Bai’ufununayah Jesu eo na’atube sabuw hi’uwih himarir.
16 Chúa Giê-xu cầm năm ổ bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, cảm tạ Thượng Đế đã ban cho thức ăn. Rồi Ngài trao thức ăn cho các môn đệ phân phát cho dân chúng.
16 Imaibo Jesu rafiy fafar umat roun bow, naatu siy rou’ab bow, au mar nuw ra’at, God ana merar yi igegewasin sawar, im seseb ana bai’ufununayah itih hibow sabuw hifaramih hi’aa.
17 Mọi người ăn uống no nê, chỗ còn thừa gom được mười hai giỏ đầy.
17 Sabuw etei hi’aa yah iw naatu bai’ufununayah kaifet etei 12 hibow sabuw bay hi’aau turih hibihamiyen hiwan awah hikufoten.
18 Một lần nọ, khi Chúa Giê-xu đang cầu nguyện riêng, có các môn đệ bên cạnh, thì Ngài hỏi, “Người ta nói ta là ai?”
18 Ana veya ta Jesu akisinamo ma yoyoyoban ana bai’ufununayah hina biyan hitit ibatiyih eo, “Sabuw ayu isau mi’itube’ewat teo kwanonowar?”
19 Họ đáp, “Có người nói thầy là Giăng Báp-tít. Kẻ khác nói thầy là Ê-li, còn người khác nữa thì nói thầy là một trong những nhà tiên tri đời xưa sống lại.”
19 Hiya’afut hio, “Sabuw afa teo o i John Baptist, afa teo o i Elijah, naatu afa teo o i God ana dinab oro’orot marasika himomorob i ta morobone yawas maiye na.”
20 Nhưng Chúa Giê-xu hỏi, “Còn các con nói ta là ai?”
20 Naatu ana bai’ufununayah ibatiyih, “Bo kwa ayu isou mi’itube kwanotanot?” Peter iya’afut eo, “O i God ana Roubininenayan.”
21 Chúa Giê-xu nghiêm cấm họ không được nói điều ấy cho ai.
21 Imaibo Jesu eofafarih eo, “Men yait ta ana tur kwana’owenamih.”
22 Ngài bảo “Con Người phải chịu nhiều nỗi khổ. Ngài sẽ bị các bô lão Do-thái, các giới trưởng tế và các giáo sư luật loại ra. Ngài sẽ bị giết và sau ba ngày sẽ sống lại từ trong kẻ chết.”
22 Naatu Jesu iuwih eo, “Jew hai orot gagamih, firis hai ukwarih na’atube Ofafar Bai’obaiyenayah boro Orot Natun hinakwahir, biyababan gagamin na’in nab, hina’asabun namorob, baise veya baitounin ufunamaim boro morobone namisir maiye.”
23 Ngài bảo họ, “Nếu ai muốn theo ta thì phải từ bỏ những điều mình ưa thích. Mỗi ngày họ phải sẵn lòng hi sinh cuộc sống mà theo ta.
23 Naatu etei’imak iuwih eo, “Orot yait ayu bai’ufnunu’umih nakokok na’at, taiyuwin ana yawas i nakwahir, mar etei ana onaf na’abar ayu ni’uf nunu.
24 Ai tìm cách giữ mạng sống mình sẽ đánh mất sự sống thật. Còn ai hi sinh mạng sống mình vì ta sẽ nhận được sự sống thật.
24 Anayabin orot yait ana yawas i taiyuwin isan eo’oharihar boro nikasiy, baise orot yait ana yawas nakwahir ayu nabi’ufnunu, ma’ama wanatowan boro natita’ur.
25 Nếu người nào được cả thế giới, mà chính mình bị tiêu hủy hoặc chết mất, thì chẳng ích gì.
25 Tafaram wanawanan orot ta sawar tutufin etei i bow karam, baise i taiyuwin ana yawas nabi’afiy, o hina bigegesair na’at, iti sawar bow ya ma tototo boro hinibais?
26 Ai xấu hổ về ta và lời dạy dỗ của ta, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ về người ấy khi Ngài hiện đến trong vinh quang của Cha và các thiên sứ thánh.
26 Orot yait ayu isou biyan eo’ohow, naatu au tur isan biyan nao’ohow na’at, Orot Natun ana bonamanamarinamaim na’atube Tamah God ana bonamanamarinamaim naatu ana tounamatar kakafiyih auman hai bonamanamarinamaim namatabir maiye nanan ana veya, boro ibo isan biyan na’ohow.
27 Ta bảo thật với các con, vài người đang đứng đây sẽ được trông thấy Nước Trời trước khi qua đời.”
27 Anababatun a tur ao’owen, kwa iyab iti kwama’am boro yawas kwanama’am God ana aiwob kwana’itin.”
28 Khoảng tám ngày sau khi Chúa Giê-xu dạy những điều ấy, thì Ngài mang Phia-rơ, Giăng và Gia-cơ lên một ngọn núi để cầu nguyện.
28 Tur iti eo hima fur ta’imon sasawar ufunamaim, Peter, John, naatu James buwih bairi hiyen hin oyaw wan yoyoban isan.
29 Trong khi đang cầu nguyện, hình dáng Ngài đổi khác, còn áo quần Ngài trở nên sáng trắng.
29 Naatu hiyen hin yoyoyoban ana maramaim yumatan botabir, ana faifuw hikwes anababatun namanamar ebowabow emamarakaw na’atube.
30 Bỗng có hai người, Mô-se và Ê-li, hiện ra nói chuyện với Chúa Giê-xu.
30 Nati ana maramaim naniyan meyemeye orot rou’ab, Moses, Elijah hairi hirerereb,
31 Họ hiện ra trong vinh quang của thiên đàng và nói chuyện về sự ra đi của Ngài sắp diễn ra ở Giê-ru-sa-lem.
31 mar ana marakaw bonamanamarin auman hira’iy Jesu ana bowabow iti tafaramamaim baisawarin matabir maiye isan, naatu God ana kok abisa Jesu Jerusalemamaim sinaf baiturobe isan bairi hio.
32 Phia-rơ và hai môn đệ kia buồn ngủ quá sức, nhưng khi hoàn toàn tỉnh ngủ, họ thấy vinh quang của Chúa Giê-xu và hai người đang đứng với Ngài.
32 Peter ana ofonah bairi i nuhih bur hi’inu’in ufut iti sawar himatar, baise matah nuw himimisir auman Jesu biyanamaim bobonamanamar hi’itin naatu orot rou’ab bairi hibatabat hi’itih.
33 Khi Mô-se và Ê-li sắp ra đi, thì Phia-rơ thưa với Ngài, “Thưa thầy, chúng ta ở đây rất tốt. Để chúng con dựng ba cái lều—một cái cho thầy, một cái cho Mô-se và một cái cho Ê-li.” Phia-rơ cũng chẳng biết mình đang nói gì.
33 Naatu orot rou’ab Jesu hibihamiy auman, Peter Jesu isan eo, “Regah igewasin aki iti ama’amamaim sis tounu ana wowab, ta o isa ta Moses isan naatu Elijah isan!” Iti na’atube eo anayabin i men so’ob abisa eo.
34 Lúc ông đang nói thì có đám mây bay đến che phủ họ, khiến họ hốt hoảng.
34 Peter iti na’at bat eo auman sakusakuk ra’iy ana youninamaim tar sumih, naatu wanawanan hirur auman, bai’ufununayah yah birubir fafar.
35 Từ trong đám mây có tiếng vọng ra, “Đây là Con ta, người mà ta đã chọn. Hãy nghe theo người!”
35 Sakukuw wanawanan God eafatait eo, Iti Orot i Ayu Natu, ayu arubin imih nao’o kwananowar.”
36 Khi tiếng ấy nói xong, thì chỉ còn có một mình Chúa Giê-xu ở đó. Phia-rơ, Giăng và Gia-cơ không nói gì cả và trong những ngày ấy cũng không kể cho ai nghe điều họ vừa mới trông thấy.
36 Iti tur hinowar in sasawar ufunamaim Jesu akisinamo batabat hi’itin. Naatu bai’ufununayah sawar abisa nati ana veya’amaim hi’itin men yait ta ana tur hi’owen awah hibofot hima.
37 Hôm sau, khi xuống núi, thì có đám đông dân chúng đến đón Ngài.
37 Marto Jesu ana bai’ufununayah bairi hire hina oyaw an hitit, naatu nati’imaim sabuw hima’am hina biyah hitit.
38 Một người trong đám đông kêu lớn cùng Ngài, “Thưa thầy, làm ơn đến xem giùm con tôi vì nó là con một tôi.
38 Orot ta sabuw rau’ay wanawanahimaim batabat e’af eo, “Bai’obaiyenayan, abifefeyani kunuw natu ku’itin, natu ta’imon maiyow!
39 Một ác quỉ ám nó, bỗng nhiên nó rú lên. Quỉ làm cho nó vật vã rồi sùi bọt mép. Quỉ muốn làm hại nó, gần như không bao giờ buông tha nó.
39 Demon kakafih kaun teyey ana veya eororsair iwow ere erab awan fusifusin ekubar in erabirab biyan riririr ebiwa’an. Naatu iti na’atube i mar etei esisinaf men kafa’imo ebihamiyimih.
40 Tôi đã năn nỉ các môn đệ thầy đuổi quỉ ra mà họ làm không được.”
40 A bai’ufununayah ai fefeyanih, demon nuninamih auwih, baise men karam.”
41 Chúa Giê-xu đáp, “Mấy ông không có đức tin, và nếp sống mấy ông sai quấy. Ta phải ở với các ông và chịu đựng các ông trong bao lâu nữa? Mang con ông đến đây.”
41 Jesu iyafutih eo, “Kwa sabuw iti boun ana veya aur baitumatum naatu ayawas etei i hibibir. Kwanotanot ayu boro bairit manin tanama abit ana’abar? A kek kubai kuna aitin.”
42 Lúc cậu bé đang đến thì quỉ vật nó té xuống đất, nằm giãy giụa. Nhưng Chúa Giê-xu quở mắng ác quỉ, chữa lành cậu bé và giao cậu lại cho người cha.
42 Kek nan auman demon kakafin kek bai rab rouw me yan re naatu ifiruruw in hub itaiy re. Baise Jesu demon kakafin kwarar tatab nun tit kek iyawas bai tamah itin.
43 Mọi người đều sững sờ về quyền năng lớn lao của Thượng Đế.
43 Sabuw etei’imak God ana fair hi’itin hifofofor men kafaita. Sabuw Jesu abisa sisinaf isan, hibat hibifofofor wanawanan Jesu ana bai’ufununayah isah eo,
44 “Các con đừng quên điều thầy nói bây giờ với các con: Con Người sẽ bị trao vào tay dân chúng.”
44 “Tain kwanarub gewas tur iti anao kwananowar. Orot Natun i boro baban hinao naatu hinab sabuw umahimaim hinayai.”
45 Nhưng các môn đệ không hiểu điều ấy vì ý nghĩa đã bị che khuất khỏi họ, mà họ lại sợ không dám hỏi Ngài.
45 Baise bai’ufununayah iti tur naniyan men hibai, tur anayabin hai notamaim ibun, naatu baibatiyin tur anayabin o nowar isan hibir.
46 Các môn đệ bắt đầu tranh cãi với nhau để xem ai là người lớn nhất trong vòng họ.
46 Bai’ufununayah taiyuwih wanawanahimaim, yait orot gagamin isan hio hinan gamin matar.
47 Chúa Giê-xu biết được ý nghĩ ấy nên Ngài mang một em nhỏ đến đứng bên cạnh Ngài.
47 Jesu abisa hinotanot itin, basit kek kafa’i ta bai na sisibinamaim iu bat.
48 Rồi Ngài dạy, “Người nào nhân danh ta tiếp một em nhỏ nầy, tức là tiếp ta. Còn người nào tiếp ta tức là tiếp Đấng đã sai ta đến, vì người nào nhỏ nhất trong các con mới là người lớn nhất.”
48 Imaibo iuwih, “Orot yait kek kafai iti na’atube nab ayu wabu’umaim ana merar nayiy, i ayu au merar eyiy. Naatu orot yait ayu au merar eyiy i orot yait ayu iyunu anan i ana merar eyiy. Anayabin orot yait kwa wanawanamaim wabin en kek kikimin na’atube ema’am, nati orot i gagamin.”
49 Giăng thưa, “Thưa thầy, chúng con thấy có người dùng danh thầy đuổi quỉ ra khỏi người ta. Chúng con cấm ngay, vì anh ta không cùng nhóm với chúng ta.”
49 John misir eo, “Regah, orot ta o wabimaim demon kakafih nununih a’itin naatu a’otan. Anayabin nati orot i men it ata kou’ayomaim ema’ama.”
50 Nhưng Chúa Giê-xu đáp, “Đừng cấm làm gì, vì người nào không chống chúng ta tức là về phía chúng ta.”
50 Jesu iya’afut eo, “Men ina’otanimih, anayabin orot yait kwa isa men ebirakit i kwa isa ebatabat.”
51 Khi gần đến lúc Chúa Giê-xu phải ra đi, Ngài quyết định lên thành Giê-ru-sa-lem.
51 Jesu au mar yen isan ana veya na kakabom auman, ana not bogaigiwas yen in au Jerusalem.
52 Ngài cho vài người đi trước đến một tỉnh thuộc miền Xa-ma-ri để chuẩn bị cho Ngài.
52 Naatu kob wan iyafarih hin Samaria bar merar hitit ana efan hitayabuna tanan imaim ta’in isan.
53 Nhưng dân chúng ở đó không chịu tiếp đón Ngài, vì Ngài định tâm lên Giê-ru-sa-lem.
53 Baise Samaria sabuw men ana merar hiyi hibai efan hitinimih, anayabin hiso’ob Jesu i au Jerusalem yey.
54 Thấy vậy Gia-cơ và Giăng, hai môn đệ của Chúa Giê-xu liền nói, “Thưa Chúa, Ngài có muốn chúng con khiến lửa từ trời giáng xuống đốt tiêu bọn người nầy không?”
54 Naatu bai’ufununayah orot rou’ab James John hairi iti na’atube hi’i’itin yah so’ar hio, “Regah, kukokok wairaf marane anao nara’iy iti sabuw nagurusih?”
55 Nhưng Chúa Giê-xu quay lại quở trách hai người.
55 Baise Jesu tatabir hairi’ika kwararih.
56 Rồi họ đi qua tỉnh khác.
56 Naatu Jesu ana bai’ufununayah bairi hin bar merar ta hitit.
57 Đang khi đi đường, có người thưa với Chúa Giê-xu, “Thầy đi đâu tôi sẽ theo đó.”
57 Ef hiyen hinan naiwanamaim orot ta Jesu ana tur eowen eo, “Ayu boro ani’ufnuni o menamaim kwenan boro imaim tanan.”
58 Chúa Giê-xu bảo họ, “Chồn cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ gối đầu.”
58 Jesu orot iya’afut iu, “Haruharu hai sau tema’am, naatu mamu hai batar tema’am, baise Orot Natun mare ma biyan tubaiwa’an isan aurin efan i en.”
59 Chúa Giê-xu bảo một người khác, “Hãy theo ta!” Anh đáp, “Thưa Chúa, để tôi chôn cất cha tôi trước đã.”
59 Naatu Jesu tatabir orot ta isan eo, “Kwi’ufnunu airit tan.” Baise orot eo, “Regah akokok wan i boro inihamiyu anan tamai morob inu’in anab anan ana yai imaibo ani’ufnuni?”
60 Nhưng Chúa Giê-xu bảo anh, “Hãy để người chết chôn người chết. Còn anh hãy đi ra rao giảng về Nước Trời.”
60 Baise Jesu orot iya’afut eo, “Murubih kwaihamiyih boro murubih taiyuwih hinaya’ih. Baise o i kwen, God ana aiwob isan kubinan.”
61 Người khác nữa thưa, “Thưa Chúa, tôi sẽ theo Ngài nhưng để tôi về chào từ giã gia đình tôi đã.”
61 Naatu orot ta na maiye eo, “Regah ayu i boro o ani’ufnuni, baise wan i boro anan hinai tamai naatu taitu tuwai’inah anao tuturih.”
62 Chúa Giê-xu bảo, “Ai bắt đầu cày ruộng mà cứ còn ngoái cổ nhìn lại phía sau thì hoàn toàn vô dụng cho Nước Trời.”
62 Jesu iya’afut iu, “Orot yait busuruf ana me bifufubiy, naatu misir maiye bat au’uf enunutabitabir, God ana aiwobomaim boro men karam nabow.”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 9, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.