Lucas 7
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Sau khi Chúa Giê-xu dạy cho dân chúng những điều ấy xong thì Ngài đến thành Ca-bê-nâm.
1 Jesu tur etei eo binan sabuw hinowar in sasawar ufunamaim na Capernaum tit.
2 Một viên sĩ quan ở đó có đứa đầy tớ rất tin cậy đang đau gần chết.
2 Nati’imaim Roman baiyowayan orot ukwarin ana akirwairafin isan biyabow kwanekwan i sawow gagamin bai morobomih biwa’an.
3 Nghe đồn về Chúa Giê-xu, ông liền nhờ các bô lão Do-thái đến nói giúp để Ngài chữa lành cho đầy tớ mình.
3 Baise Jesu na nati’imaim titit ana tur nonowar ana maramaim, Jew hai orot gagamih iyunih hin Jesu biyan hitit ana akir wairafin baiyawasin isan Jesu hifefeyan.
4 Các bô lão đi gặp Chúa Giê-xu và nài nỉ Ngài đến. Họ thưa, “Ông sĩ quan nầy rất đáng được thầy giúp.
4 Basit Jew hai orot gagamih hina Jesu biyan hitit turobe’emaim hifefeyan hio, “Iti orot ana yababan i ekokok kwanekwan o baibais initin ana akir wairafin iniyawas.
5 Ông rất yêu thương dân ta và đã xây một hội đường cho chúng ta.”
5 Anayabin ata sabuw isah i yabow, aki ai Kou’ay Bar wowab.”
6 Chúa Giê-xu liền đi với họ. Khi Chúa đi gần đến nhà ông, viên sĩ quan cho bạn ra thưa, “Xin Chúa đừng tự phiền như thế, vì tôi không đáng rước Chúa vào nhà.
6 Basit bairi hin, naatu hina bar hibiyubin auman, baiyowayan orot ana ofonah afa iyunih hin Jesu biyan hitit hio, “Regah aki ai of iti na’atube eo, Aisim inan a nababan, anayabin ayu men orot gagamu boro inan au bar inatit.
7 Do đó mà tôi không đi ra gặp Chúa. Xin Ngài chỉ cần truyền lệnh thì đứa đầy tớ của tôi sẽ lành.
7 Na’atube ayu auman taiyuwu ai’itu ayu men orot gewasu boro anan nanamaim anatit, baise akokok turawat nao au akir wairafin boro nayawas.
8 Vì tôi ở dưới quyền người khác, đồng thời tôi cũng có quân lính dưới quyền tôi. Tôi bảo anh lính nầy, ‘Đi,’ thì nó đi. Tôi bảo anh lính khác, ‘Đến,’ thì nó đến. Tôi bảo đầy tớ tôi, ‘Làm cái nầy,’ thì nó làm.”
8 Anayabin ayu auman baiyowayah orot isah, au fair ema’am, orot ta aniyun anao, ‘Ni’imaim kwen.’ I boro nan, naatu orot ta isan anao, ‘Iti’imaim kuna.’ I boro nan, naatu au akir wairafin orot ta isan anao, ‘Iti kusinaf.’ I boro nasinaf.”
9 Khi nghe vậy, Chúa Giê-xu vô cùng ngạc nhiên. Ngài quay lại nói với dân chúng đang đi theo mình, “Ta bảo các ngươi, trong cả nước Ít-ra-en, ta chưa bao giờ thấy ai có đức tin lớn như thế nầy.”
9 Jesu iti orot ana tur nonowar ifofofor men kafaita, naatu tatabir sabuw hi’ufunun bairi hinan iuwih eo, “Anababatun a tur ao’owen Israel wanawananamaim ama areremor, men kafa’imo orot ta ana baitumatum iti na’atube aitinimih.”
10 Những người được sai đến gặp Chúa Giê-xu trở về nhà thì thấy người đầy tớ đã lành bệnh.
10 Imaibo orot kob nayah himatabir maiye hin bar hititit, akir wairafin yawas ma’am hi’itin.
11 Ít lâu sau, Chúa Giê-xu đi đến một thành gọi là Na-in, có các môn đệ và một đám đông dân chúng đi theo.
11 Nati ufunamaim sabuw rau’ay gagamin na’in, naatu Jesu ana bai’ufununayah bairi hin bar merar wabin Nain imaim hitit.
12 Đến gần cửa thành, Ngài thấy một đám tang đi ra. Người mẹ, là một bà góa, vừa mất đứa con trai một. Người từ thành ấy đưa xác rất đông cùng với bà mẹ, trong khi người ta đang khiêng quan tài cậu ra.
12 Jesu na bar merar ana fur awan titit auman, kwafur babin natun orot ta’imonamo morob, sabuw rau’ay gagamin na’in kwafur babin hibai hirerey auman natun hi’abar hititit bairi hitar.
13 Nhìn thấy bà, Chúa động lòng thương. Ngài bảo, “Bà đừng khóc nữa.”
13 Jesu nuw kwafur babin i’itin ana maramaim dogoron wanawanan yababan awankaratan naatu kwafur isan eo, “Babin men inarerey.”
14 Ngài bước đến rờ nắp quan tài, thì những người khiêng dừng lại. Chúa Giê-xu gọi, “Cậu em ơi, ta bảo cậu hãy ngồi dậy!”
14 Imaibo na sabuw biyah tit eof ir sum butubun, sabuw orot hi’abar hinan hinutanub hibat, Jesu orot murubin isan eo, “Orot boubun kumisirimih ayu ao!”
15 Cậu liền ngồi nhỏm dậy và bắt đầu nói chuyện. Chúa Giê-xu liền giao cậu lại cho bà mẹ.
15 Orot murubin inu’in yawas misir mare ma tur eo. Jesu nawiy hairi hin hinah itin.
16 Toàn thể dân chúng vô cùng kinh ngạc và bắt đầu ca ngợi Thượng Đế. Họ nói, “Có một đấng tiên tri lớn đã xuất hiện giữa chúng ta! Thượng Đế đã đến viếng thăm dân Ngài.”
16 Sabuw etei orot murubin yawas mimisir hi’itin hai bir ra’at baise God ana merar hiyi wabin hibora’ara’ah hio, “Dinab orot fairin anababatun wanawanatamaim tit! God ana sabuw baiyawasih isan na!”
17 Tin nầy được đồn ra khắp miền Giu-đia và các vùng xung quanh.
17 Jesu iti sisinaf ana tur ra’at tafaram Judea wanawanan hima’am etei hinowar na’atube tafaram nati sisibinamaim hima’am auman hinowar.
18 Các môn đệ của Giăng thuật lại những chuyện ấy cho ông nghe. Giăng gọi hai môn đệ
18 — ausente —
19 sai họ đi gặp Chúa để hỏi, “Thầy là Đấng phải đến hay chúng tôi còn phải chờ Đấng khác?”
19 — ausente —
20 Lúc gặp Chúa Giê-xu, họ hỏi, “Giăng Báp-tít sai chúng tôi đến hỏi ‘Thầy là Đấng phải đến hay chúng tôi phải chờ Đấng khác?’”
20 Iti na’atube eo imaibo hina Jesu biyan hitit ana tur hi’owen hio, “Aki John Baptist o baibatiyimih iyafari ana, imih akokok inao ananowar, John o isa eo anonowar o iti ina, o aki boro orot ta isan anama anakaif.”
21 Khi ấy Chúa Giê-xu đang chữa lành nhiều người khỏi đủ thứ tật bệnh, đuổi ác quỉ và khiến kẻ mù được sáng mắt.
21 Nati ana veya’amaim Jesu sabuw maumurih na’in hai sawow yumatah ta ta, naatu demon kauh hiyen hima hibiwawa’anih etei biyawasih. Naatu sabuw moumurih na’in matah fim iwa’an matah higewasin hinuwanuw.
22 Ngài bảo các môn đệ của Giăng, “Về thuật lại cho Giăng biết những điều các anh nghe và thấy hôm nay. Kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, những người mắc bệnh cùi được chữa lành, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại và Tin Mừng được giảng cho kẻ nghèo.
22 Imih Jesu John ana bai’ufununayah iyafutih eo, “Kwamatabir kwan abisa kwa’i’itah John ana tur kwa’owen. Sabuw matah fim higewasin tinuwanuw, ah kafikafirih higewasin hibat tereremor, kokom ani’anih biyah igewasin, tainih gugurih higewasin tur tenonowar, naatu sabuw morobone abiyawasih, tur gewasin i yababan sabuw isah abibinan.
23 Phúc cho ai không nao núng trong đức tin mình vì ta!”
23 Sabuw iyab erekasiy auman ayu tibitutumu i boro men baigegewasin hinab!”
24 Sau khi các môn đệ của Giăng về rồi, Chúa Giê-xu mới nói chuyện với dân chúng về Giăng: “Các ngươi ra đồng hoang để xem gì? Có phải xem cọng sậy bị gió thổi không?
24 Kob nayah himatabir John isan hinan ufut, Jesu tatabir sabuw rau’ay gagamin hina hima’am ibatiyih eo, “Arar yan John abisa sisinaf itinamih kwatit kwan? Kotar wadar bi’inuwas itinamih kwan?
25 Các ngươi đi ra xem gì nữa? Có phải xem người mặc đồ sang trọng không? Không, những người mặc đồ sang trọng và giàu có thì ở trong cung vua.
25 Abisa itinamih kwatit kwan? Orot sawar wairafin e’abur gewas ma’am itinamih kwan? En anayabin sabuw hai abur gewasin i bar gewasihimaim tema’am.
26 Nhưng các ngươi đi ra xem gì nữa? Có phải xem nhà tiên tri chăng? Thật vậy, ta bảo các ngươi, Giăng còn lớn hơn nhà tiên tri nữa.
26 Imih kwao anowar. Abisa itinamih kwan? Dinab orot? Turobe, baise a tur ana’owen, iti orot i dinab oro’orot etei tafahimaim.
27 Vì có lời viết về Giăng như sau:
27 Anayabin John isan, God iti na’atube eo Buk Atamaninamaim hikirum,
28 Ta nói với các ngươi, trong tất cả những người sinh ra đời, chưa có ai lớn hơn Giăng, nhưng trong Nước Trời, người nhỏ nhất còn lớn hơn cả Giăng nữa.”
28 Jesu iban eo maiye, “‘Tur anababatun a tur ao’owen, baibin hitatoub wanawanahimaim, orot men yait ta John natabirimih. Baise orot ta God ana aiwobomaim taiyuwin bikafai i John natabir.”
29 Khi dân chúng, kể cả các nhân viên thu thuế nghe như thế thì nhìn nhau và đồng ý rằng, lời dạy dỗ của Thượng Đế là đúng và bằng lòng chịu Giăng làm lễ báp-têm.
29 Sabuw etei, kabay o’onayah auman tur hinonowar ana maramaim, hiorereb God ana ef i turobe mutufurin, anayabin iti sabuw etei’imak i John bapataito itih.
30 Nhưng những người Pha-ri-xi và các chuyên gia về luật không chấp nhận chương trình Thượng Đế dành cho họ; họ không chịu Giăng làm lễ báp-têm.
30 Baise Pharisee naatu Ofafar Bai’obaiyenayah God abisa sinafumih kokok i hikwahir men hisinaf naatu John ana bapataito hikwahir.
31 Sau đó Chúa Giê-xu nói, “Bây giờ ta phải nói gì về dân nầy? So sánh họ với cái gì?
31 “Imih sabuw iti boun tema’am hai itin boro abisa’amaim anayai anao? Hai itinin i mi’itube?
32 Họ giống như mấy đứa nhỏ ngồi ngoài chợ, bảo nhau rằng,
32 Sabuw hai itinin i Kek gidigidih urababan tefafafow na’atube. Kek turih boro turahinah isah hio, ‘Aki tabin ana douduf arabirab baise kwa men kwabenabenamih. Naatu aki morob ana ew atatabor, baise kwa men kwarerereyamih.’
33 Giăng Báp-tít đến, không ăn bánh cũng không uống rượu, các ngươi bảo, ‘Ông ta bị quỉ ám.’
33 John Baptist nan ana veya’amaim yohar bay, harew fokarih men eaa tomatom, naatu kwa kwao, ‘Iti orot i demon kaun hiyen!’
34 Con Người đến, ăn và uống thì các ngươi phê bình, ‘Xem kìa! Ông ta ăn nhậu quá mức, lại còn kết bạn với bọn thu thuế và kẻ có tội!’
34 Baise Orot Natun na bay harew eaa tomatom kwa kwao, ‘Iti orot i ana bay aa naatu ana harew tom kakafin, kabay o’onayah naatu sabuw bowabow kakafih sinafuyah hai begon!’
35 Nhưng những người khôn ngoan thì nhìn nhận sự khôn ngoan là do Thượng Đế mà đến.”
35 Baise God ana ukwar rerekab i sabuw iyab hikok tebaib isah ebiturobe.”
36 Có một người Pha-ri-xi mời Chúa Giê-xu dùng bữa tại nhà, nên Ngài đi đến nhà ông và ngồi ở bàn.
36 Pharisee orot ta wabin Simon Jesu ifefeyan na ana baremaim hairi bay aa isan, basit Jesu na orot ana bar run hairi hima bay hi’aa.
37 Một người đàn bà tội lỗi trong tỉnh nghe tin Chúa Giê-xu đang dùng bữa ở nhà người Pha-ri-xi, thì chị liền mang một bình bằng ngọc đầy nước hoa
37 Babin ta bowabow kakafin wairafin nati bar meraramaim ma’am, Jesu Pharisee ana baremaim ma bay eaa ana tur nowar, basit re kibub wabin alabaster kabayamaim hikwak biya rarouw yamurin gewasin hisuwai batabat bai na
38 đến, đứng đàng sau nơi chân Chúa Giê-xu khóc nức nở. Chị lấy nước mắt rửa chân Chúa Giê-xu rồi lấy tóc mình mà lau và hôn chân Ngài nhiều lần, đồng thời xức nước hoa nơi chân Ngài.
38 Jesu ufunane bat, anamaim rerey maturin re an hihuruf, naatu kwafure aribunamaim Jesu an sasam naatu an mamay. Imaibo raiy bai Jesu anamaim isuwai re.
39 Khi người Pha-ri-xi, là người mời Ngài đến nhà, thấy vậy mới thầm nghĩ, “Nếu ông Giê-xu nầy thật là nhà tiên tri, thì hẳn ông ta phải biết rằng người đàn bà đang đụng đến mình là người xấu xa!”
39 Iti na’atube sisinaf Pharisee orot i’itin ana maramaim, nuhinamaim not eo, “Iti orot dinab mowan na’at iti babin ebubutubun boro taso’ob, naatu boro taso’ob iti babin i yait, anayabin iti babin i bowabow kakafin wairafin!”
40 Chúa Giê-xu bảo người Pha-ri-xi, “Xi-môn, tôi có chuyện muốn nói với ông.”
40 Naatu Jesu eo, “Simon, ayu tur ta anao inanowar.” “Bo i aisim bai’obaiyenayan. Kuo anowar.”
41 Chúa Giê-xu nói, “Có hai người mắc nợ một chủ cho vay tiền. Một người thiếu năm trăm quan tiền, người kia thiếu năm chục.
41 Jesu eo, “Orot rou’ab hin orot ta kabay wairafin biyan kabay isan hifefeyan, basit orot 500 kina bai orot ta itin naatu 50 kina bai orot ta itin.
42 Vì họ không có tiền trả, nên chủ cho vay tha nợ cho cả hai. Thế thì người nào yêu chủ nợ hơn?”
42 Baise ana maramaim orot hairi aurih men karam boro orot kabay wairafin ana kabay wan hitay, imih orot kabay matuwan turan hairi’ika wabih bosairen. Imih orot menatan isan i ana yabow ra’at?”
43 Xi-môn, người Pha-ri-xi đáp, “Tôi nghĩ người mắc nợ nhiều hơn.”
43 Simon Jesu iya’afut eo, “Anotanot orot nati kabay gagamin baibine.” Imaibo Jesu Simon iu, “Nati kuo i turobe.”
44 Quay sang phía thiếu phụ, Chúa Giê-xu bảo Xi-môn, “Ông có thấy chị nầy không? Khi tôi vào nhà ông, ông không thèm mang nước cho tôi rửa chân, còn chị nầy đã rửa chân tôi bằng nước mắt và lấy tóc mình mà lau.
44 Imaibo Jesu tatabir babin isan Simon iu, “Iti babin i’itin? Ayu ana o a bar atit o men au sauwin isan harew iyai’imih, baise iti babin maturinamaim au sauw naatu aribunamaim au sasam.
45 Ông không chào đón tôi bằng cái hôn, nhưng từ khi tôi vào, chị hôn chân tôi hoài.
45 O men au merar iyi imamayu’umih, baise iti babin a bar aruruka busuruf au mamay men ihamiyimih.
46 Ông không xức dầu trên đầu tôi nhưng chị nầy đã đổ nước hoa xức chân tôi.
46 O men olive iroro’onamaim aribu isuwei’imih, baise iti babin raiy yamurin gewasin au’umaim isuwai re.
47 Tôi bảo ông rằng chị nầy tuy có tội nhiều lắm nhưng được tha thứ hết nên chị tỏ tình thương nhiều. Còn người được tha ít thì yêu ít.”
47 Imih anababatun a tur ao’owen, iti babin ana bowabow kakafin maumurih na’in etei’imak anotanot tawiyen, anayabin ana yabow gagamin na’in ayu itu. Baise orot yait ana bowabow kakafin kikimin anotanotawiyen i ana yabow kikimin.”
48 Rồi Ngài nói với chị, “Tội chị đã được tha rồi.”
48 Imaibo Jesu babin isan eo, “A bowabow kakafih etei i anotanotawiyen.”
49 Những người ngồi cùng bàn bắt đầu hỏi nhau, “Ông nầy là ai mà cũng tha tội?”
49 Sabuw afa bairi hima bay hi’aau, hibusuruf taiyuwih hibabatiyih, “Iti i abi’orot bowabow kakafih notawiyenayan.”
50 Chúa Giê-xu bảo thiếu phụ, “Vì chị có lòng tin, nên chị đã được cứu khỏi tội. Thôi chị hãy yên tâm mà về.”
50 Baise Jesu babin isan eo, “O a baitumatumamaim iyawasi tufuwamaim inatit inan.”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 7, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.