Lucas 6

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Vào ngày Sa-bát nọ, Chúa Giê-xu đi ngang qua một đồng lúa. Các môn đệ bứt bông lúa, vò trong tay rồi ăn.
1 Baiyarir ana veya ta Jesu sanabey wanawanah remor inan, ana bai’ufununayah sanabey hirut kanabih hikeb ro’oro’oh hibow hi’aa.
2 Vài người Pha-ri-xi bảo, “Tại sao mấy anh làm điều trái phép trong ngày Sa-bát?”
2 Ofafar bai’obaiyenayah afa hi’itih basit hibatiyih. Kwa aisim Baiyarir ana veya ata ofafar kwa’astu’ub iti na’atube kwasisinaf?
3 Chúa Giê-xu đáp, “Vậy là các ông chưa đọc truyện Đa-vít làm trong khi ông ta và những bạn đồng hành bị đói à?
3 Jesu iyafutih eo, “David ana sabuw bairi bayumih himorob, abisa sisinaf Buk Atamaninamaim hikirum inu’in kwaiyab kwaitin?
4 Ông vào đền thờ của Thượng Đế, lấy bánh thánh ăn, thứ bánh mà chỉ có những thầy tế lễ mới được phép ăn thôi. Ông lại còn cho những bạn đồng hành ăn nữa.”
4 David God Ana Bar wanawanan run Regah isan rafiy hisibor inu’in bai eaan, naatu turin ana sabuw itih hi’aa. Nati i ata ofafar eastu’ub. Anayabin firis akisihimo nati rafiy sibor hinab hina’aan men yait ta.
5 Rồi Ngài bảo người Pha-ri-xi “Con Người cũng là Chúa ngày Sa-bát.”
5 Naatu Jesu ana tur yomaninamaim iti na’atube eo, “Orot Natun i Baiyarir ana ukwarin.”
6 Một ngày Sa-bát khác, Chúa Giê-xu vào hội đường dạy dỗ. Tại đó có một người bị liệt bàn tay phải.
6 Baiyarir ana veya ta Jesu na Kou’ay Bar wanawanan run sabuw bai’obaiyih isan. Naatu nati sabuw wanawanahimaim i orot ta uman asukwafune murubin auman na ma’am.
7 Các giáo sư luật và mấy người Pha-ri-xi theo dõi Ngài thật kỹ, xem thử Ngài có chữa bệnh trong ngày Sa-bát không, để tố cáo Ngài.
7 Ofafar bai’obaiyenayah naatu Pharisee Jesu himtitiy Baiyarir ana veya orot ta tabiyawas na’at hita’itin, saise hai fair imaim hitab hitagam hita’umih.
8 Biết ý nghĩ của họ nên Ngài bảo người bị liệt bàn tay, “Anh hãy ra đứng giữa mọi người đây.” Anh đứng lên giữa mọi người.
8 Baise sabuw abisa hinotanot i Jesu so’ob, imih orot isan eo, “Kumisir kutit iti sabuw nahimaim kubat.” Basit orot ma’am misir bat.
9 Rồi Chúa Giê-xu hỏi họ, “Tôi hỏi các ông: Điều nào có phép làm trong ngày Sa-bát: làm lành hay làm dữ, cứu người hay giết người?”
9 Imaibo Jesu sabuw isah eo, “Ayu kwa abibatiy, ata ofafaramaim Baiyarir ana veya abistan i ebibasit boro tanasinaf? Orot babin tanibais gewasin tanasinaf o kakafin tanasinaf? Orot babin ana ma gewas isan taniyawas o ana yawas tanagurus?”
10 Chúa Giê-xu liếc quanh mọi người rồi bảo người liệt bàn tay, “Giơ tay anh ra.” Anh giơ ra thì tay được lành.
10 Jesu tatabir sabuw nutitiyih in sawar basit orot isan eo, “Uma kubora’ah.” Naatu orot uman bora’ah, marta’imon orot uman igewasin.
11 Nhưng những người Pha-ri-xi và các giáo sư luật nổi giận và bàn nhau cách đối phó với Chúa Giê-xu.
11 Etei hima’am yah so’ar higagamat taiyuwih hibabatiyih hio, “Iti orot Jesu isan boro mi’itube tanasinaf?”
12 Lúc ấy, Chúa Giê-xu đi lên núi kia để cầu nguyện. Ngài cầu nguyện cả đêm cùng Thượng Đế.
12 Nati ana veya’amaim Jesu yoyobanamih yen in oyaw wanamaim tit, naatu imaim ma God isan yoyoban in marto. Jesus arar yanamaim eyoyoyoban|alt="Jesus praying in wilderness" src="cn01698B.tif" size="col" loc="Luk 6.12" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="6.12"
13 Sáng hôm sau, Ngài gọi các môn đệ đến và chọn mười hai người mà Ngài gọi là sứ đồ:
13 Mar auman basit, ana bai’ufununayah etei eaf ayuwih hiru’ay, naatu wanawanahimaim orot etei 12 rubinih, wabih tur abarayan iwaben.
14 Xi-môn thì Ngài đặt tên là Phia-rơ, em ông là Anh-rê; Gia-cơ, Giăng, Phi-líp, Ba-thê-lê-mi,
14 Naatu iti i tur abarayah wabih, Simon (wabin ta Peter, Jesu uf biwab) naatu Peter tain Andrew, James, John, Philip naatu Bartholomew,
15 Ma-thi-ơ, Thô-ma, Gia-cơ con của A-phê, Xi-môn còn gọi là Xê-lốt,
15 Matthew, Thomas naatu Alpheus natun James naatu Simon (Zerot teo),
16 Giu-đa con của Gia-cơ và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người về sau trao Chúa Giê-xu cho các kẻ thù của Ngài.
16 James natun Judas, naatu Judas Iscariot, (Jesu baban eo momorob).
17 Rồi Chúa Giê-xu cùng các môn đệ đi xuống núi. Ngài đứng nơi chỗ đất bằng phẳng. Một số đông các môn đệ Ngài cùng dân chúng từ khắp miền Giu-đia, Giê-ru-sa-lem, các thành phố miền duyên hải như Tia và Xi-đôn cũng có mặt tại đó.
17 Jesu ana tur abarayah bairi oyawane himatabir hire hina hititit ana maramaim, ana bai’ufununayah etei hiru’ay butun ana yabarinamaim bairi hibat, naatu sabuw maumurih na’in Judea wanawanan, Jerusalem wanawanan hiru’ay, naatu torane bar merar rou’ab, Taiya, Sidon auman sabuw etei hiru’ay.
18 Họ đến để nghe Ngài dạy dỗ và được chữa lành bệnh tật. Ngài chữa lành nhiều người bị ác quỉ quấy nhiễu.
18 Hiruru’ay anayabin i tur nowar isan naatu hai sawow yumatah ta ta hibow hima’am baiyawasih isan hina. Naatu sabuw afa demon kakafih hibiwawa’anih auman hinan etei iyawasih.
19 Ai nấy đều tìm cách rờ Ngài vì có quyền lực phát ra từ Ngài khiến mọi người được lành bệnh.
19 Sabuw etei i hikokok Jesu hitabutubun, anayabin hibubutubun ana veya, ana fair titit i etei biyawasih.
20 Chúa Giê-xu nhìn các môn đệ và nói,
20 Jesu ana bai’ufununayah nutitiyih in sawar basit eo,
21 Các con là những người đang đói, sẽ vui mừng,
21 Kwa iyab boun bayumih kwabi’akir
22 Người ta sẽ ghét các con, cắt đứt liên lạc với các con, phỉ nhổ các con và xem các con là đồ gian ác, vì các con theo Con Người. Nhưng khi họ làm như thế, các con sẽ vui mừng.
22 Sabuw hinifa’ifa’i, hinakwahiri, tur kakafih hina’uwi naatu kakafi hinarouw hinao ana maramaim kwaniyasisir, anayabin Orot Natun kwabi’ufunun!
23 Lúc ấy hãy hớn hở lên, vì có một phần thưởng rất lớn đang dành cho các con trên thiên đàng. Tổ tiên của họ cũng đối xử với các nhà tiên tri như vậy.
23 Imih sawar iti na’atube hinamamatar ana veya kwanakawasa naatu kwaniyasisir kwanaben. Anayabin a baiyan gagamin na’in maramaim inu’in. Abisa tisisinaf anayabin hai a’agir dinab oro’orot isah sawar iti na’atube hisinaf.
24 Nhưng khốn cho các ngươi là người hiện đang giàu có,
24 Baise kwa iyab boun sawar wairafi kwama’am
25 Khốn cho các ngươi là người hiện đang no đủ,
25 Kwa iyab boun bay kwa’aa ya higadid kwama’am
26 Khốn cho các ngươi, khi người ta chỉ nói tốt về các ngươi, vì tổ tiên họ cũng nói với các nhà tiên tri giả y như thế.
26 Kwa iyab sabuw wab tebobora’ara’ah boro yababan gagamin maiyow kwanab! Anayabin hai a’agir dinab baifufuwenayah isah na’atube hisinaf.
27 Nhưng ta bảo các ngươi là người đang nghe, hãy yêu kẻ thù mình. Hãy đối tốt với kẻ ghét mình,
27 Kwa iyab iti tur kwanonowar a tur ao’owen a kamabiy sabuw kwaniyabuwih, sabuw iyab tibifa’ifa’i isah gewasin kwanasinaf.
28 chúc lành cho kẻ nguyền rủa mình và cầu nguyện cho kẻ độc ác với mình.
28 Sabuw iyab hinao’orarafi, God kwanifefeyan baigegewasin nitih, naatu sabuw iyab isa kakafin hinasisinaf isah kwanayoyoban.
29 Nếu ai tát má nầy, hãy đưa luôn má kia. Nếu ai muốn lấy áo ngoài của các ngươi, cho họ lấy luôn áo trong, nếu họ muốn.
29 Orot yait rebareb nabifafar na’at, raunane’ebo inabotabir nifafar. Naatu orot ta a biyabaibiyon tafan nikiya’ub nabaib na’at, baban auman inau nikiya’ub nab.
30 Người nào xin, hãy cho, còn ai giật đồ các ngươi, thì đừng đòi lại.
30 Orot babin ta sawar isan nabifefeyani initih, naatu orot babin ta sawar o nowa ebaib, kwihamiy ebai, men bainamih inao maiye.
31 Điều gì mình muốn người khác làm cho mình, thì hãy làm điều ấy cho họ.
31 A kok mi’itube sabuw isa tisisinaf na’atube, ibo isah na’atube inasinaf.
32 Nếu các ngươi chỉ yêu người yêu mình thì có gì đáng khen đâu? Vì tội nhân cũng yêu kẻ yêu mình.
32 Sabuw o tibiyabuw akisih isah inabiyabow na’at, aisim boro baigegewasin inab? Sabuw kakafih turahinah tibiyabuwih akisih boro hiniyabuwih!
33 Nếu các ngươi chỉ đối tốt với người đối tốt với mình, thì có gì đáng khen? Tội nhân cũng làm được như thế!
33 Naatu sabuw o isa gewasin tesisinafuwat isah gewasin inasisinaf na’at, aisim boro baigegewasin inab? Sabuw bowabow kakafin wairafih na’atube tisisinaf.
34 Nếu các ngươi cho người khác mượn mà lúc nào cũng trông mong được trả lại, thì có gì đáng nói? Ngay cả tội nhân cũng cho mượn và mong thu lại đủ số!
34 Sabuw iyab kubitih o iso’ob i boro wan hinay maiye hinabit na’at, aisim boro baigewasin inab? Sabuw bowabow kakafin wairafih i hiso’ob turahinah tibitih ana fofonin boro wan hinab maiye!
35 Nhưng các ngươi hãy yêu kẻ thù mình, đối tốt với họ, hãy cho mượn mà đừng mong trả lại. Như thế các ngươi mới nhận được phần thưởng lớn, và được làm con của Đấng Tối Cao, vì Ngài tỏ lòng nhân từ ngay cả cho những kẻ vô ơn và đầy tội lỗi.
35 En! Baise akamabiy sabuw kwaniyabuwih, a gewasin kwanitih. Kwanitin men wan isan kwananot. Saise a baiyan gagamin na’in boro kwanab, naatu God auyomtoro’ot natunatunamih boro kwanamatar. Anayabin sabuw iyab aurih merarayow en, sabuw kakafih God nati sabuw isah i ebigewasin.
36 Hãy tỏ lòng nhân ái như Cha các ngươi đã tỏ lòng nhân ái.
36 Tamat ekakabeber na’atube kwanakabeber.
37 Đừng phê phán người khác, thì các ngươi sẽ không bị phê phán. Đừng cáo tội người khác, thì mình sẽ không bị cáo tội. Hãy tha thứ, mình sẽ được tha thứ.
37 Taituwa inibatiyih, God boro obo nibatiyi, naatu taituwa ubar initih God boro obo ubar nit, taituwa hai kakafin inanotawiy, God boro a kakafin nanotawiy.
38 Hãy cho, các ngươi sẽ nhận. Các ngươi sẽ được ban cho nhiều. Người ta sẽ nén chặt, lắc cho thật đầy tràn, đổ vào lòng các ngươi. Các ngươi cho người khác ra sao thì Thượng Đế cũng sẽ cho các ngươi như thế.”
38 Uma natasasar taituw isah, God boro uman natasasar o isa. Tur anababatun o boro inab uma awan nakasuwai. Turobe baibais boro uma yan nasuwa nare inab nayen uma awan nakaratan. Sabuw inabitih ana fofonin God boro na’atube fofon ta’imon nit.”
39 Chúa Giê-xu kể họ nghe chuyện nầy: “Người mù có thể nào dắt người mù được không? Không được, vì cả hai sẽ cùng té xuống hố.
39 Naatu Jesu oroubon ta iti na’atube eo, “Orot matan fim men karam boro fim turan nanawiy hairi hinan, anayabin nanawiy hairi hinanan na’at boro hairi’ika hinan hub hinare.
40 Trò không hơn thầy, nhưng nếu trò được huấn luyện đầy đủ thì cũng được như thầy.
40 Kirum kek men yait ta boro ana bai’obaiyenayan nanatabirimih, baise na kirum nan yomanin na’a’asa’ub ana veya, i boro ana bai’obaiyenayan na’atube namatar.
41 Sao các ngươi nhìn thấy hạt bụi nhỏ xíu trong mắt bạn mình, mà lại không thấy cả khúc gỗ to trong mắt mình?
41 Aisim tai matan momor i’itin ku’u? Baise o mata ai bahun yi ebatabat men kutatatam.
42 Sao các ngươi nói được với bạn mình, ‘Bạn ơi, để tôi lấy hạt bụi nhỏ xíu trong mắt anh ra,’ mà chính mình lại không thấy được khúc gỗ to trong mắt mình? Nầy kẻ giả đạo đức! Trước hết hãy lấy khúc gỗ ra khỏi mắt mình, rồi mới thấy rõ mà lấy hạt bụi ra khỏi mắt bạn mình được.
42 O mata ai bahun yi batabat men itatam, naatu tai isan i’o Aro, nekuna mata momor abosair, a naniyan mi’itube ibai kuo? Wanawanan rerekabih! Matoro’ot o mata ai bahun ina’uy, imaibo boro inanuw gewas tai matan momor ina’itin inabosair.
43 Cây tốt không thể sinh trái xấu, mà cây xấu cũng không thể sinh trái tốt.
43 Ai gewasin nabiw ro’on boro men kakafin nayai, na’atube ai wanawanan kour nabiw ro’on boro men gewasin nayai.
44 Xem trái thì biết cây. Không ai hái trái vả nơi bụi gai, hoặc trái nho nơi lùm cây.
44 Ai etei’imak boro ro’ohimaim ina’itah, fafou ro’on boro men agor afe’en inima’ub, na’atube waris boro men digumar afe’en inawasarir hinare.
45 Người tốt làm việc tốt, vì tự trong lòng chứa điều tốt. Người xấu làm điều xấu, vì trong lòng chứa điều xấu. Người ta nói ra những điều chất chứa trong lòng.
45 Orot gewasin totobuyoy gewasin dogoronamaim tema’am boro nitaman nit. Orot kakafin totobuyoy kakafih dogoronamaim tema’am boro nitaman nit. Anayabin orot awanamaim abisa kakafin ititit, dogoron wanawanan i kakafin awan karatan inu’in.
46 Tại sao các ngươi gọi ta, ‘Lạy Chúa, lạy Chúa,’ mà không làm theo điều ta dạy?
46 Aisim ayu isau kwa’o, ‘Regah, Regah,’ baise abisa au’uwi i men na’atube kwasisinaf?
47 Ta sẽ cho các ngươi biết kẻ nào đến cùng ta, nghe lời ta dạy và vâng theo, thì giống ai.
47 Orot yait na ayu au tur nowar ebobosiyasiyar, ana itinin i iti ani’obaiyi kwana’itin.
48 Người ấy giống như người xây nhà đào móng sâu và đặt nền trên khối đá. Khi cơn lụt tràn đến, nước muốn cuốn trôi căn nhà ấy đi, nhưng không lay chuyển được, vì nhà ấy xây rất chắc.
48 Orot ana bar wowabinamih hub kair re kabay afe’en tutut rouw, bar wowab. Harew tit yen bar bufut rab, baise bar men iyuwiyuw, anayabin bar wowab gewas.
49 Còn kẻ nghe lời ta mà không làm theo, thì giống như người xây nhà trên đất mà không có nền. Khi cơn lụt tràn đến, nhà đó bị sập liền, tan tành không còn gì.”
49 Baise o yait ayu au tur inowar men kubobosiyasiyar, i orot ana bar wabat en wowowab na’atube, bar tutut en wowab batabat, harew tit yen bar rabirab ana veya mar ta’imonamo ufar re, naatu nati bar re’er i mutufor tarogowan.”

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 6, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.