Lucas 5
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Một ngày nọ, khi Chúa Giê-xu đang đứng bên hồ Ga-li-lê, thì nhiều người chen lấn quanh Ngài để nghe lời của Thượng Đế.
1 Veya ta Jesu Genesaret harew kukuf rewarewan batabat sabuw rou’ay gagamin na’in God ana tur nowaramih hinahinah hina biyan hitit.
2 Chúa Giê-xu thấy có hai chiếc thuyền đậu gần bờ hồ. Các người đánh cá đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới.
2 Naatu nati dones yanamaim siy bowayah hai wa rou’ab hitain hiyen hi’inu’in Jesu itah, baise siy bowayah hin hai buwat hisasouwen.
3 Ngài bước lên một trong hai chiếc thuyền, là chiếc của Xi-môn. Ngài bảo ông đẩy thuyền ra khỏi bờ một chút, rồi Ngài ngồi trong thuyền dạy dỗ dân chúng.
3 Jesu wa nati awar hibatabat wanawanahimaim Simon ana wa bai afe’en yen mare iu inatait tetenane rouw. Naatu Jesu mare sabuw rau’ay gagamin ma i’obaibiyih. Jesus wa efe’en ma sabuw ebi’obaiyih|alt="Jesus teaching from boat" src="CN01705B.TIF" size="col" loc="Luk 5.3" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="5.3"
4 Sau khi dạy xong, Ngài bảo Xi-môn, “Anh cho thuyền ra chỗ nước sâu buông lưới xuống bắt ít cá đi.”
4 Bi’obaibiyih ufunamaim, Simon iu, “A’wa kukutait itit taiyomaim a sabuw bairi buwat kwaya kwaway.”
5 Xi-môn đáp, “Thưa thầy, chúng tôi đã vất vả đánh cá suốt đêm qua mà chẳng được con nào hết. Nhưng vì thầy bảo buông lưới, thì tôi xin vâng lời.”
5 Simon eo, “Regah, fai manin buwat aya ama’am mar to men kafai siy ta eon, baise o kuo’o imih boro anasinaf.”
6 Lúc làm theo lời Chúa Giê-xu bảo, họ kéo được một mẻ cá nhiều đến nỗi lưới sắp đứt.
6 Basit, buwat hitaiy re, siy batabat wanawanan run buwat kafa’imo tatakweb.
7 Họ liền gọi đồng bạn từ thuyền khác đến giúp. Mấy người kia đến, đổ cá vào đầy ngập cả hai thuyền, đến nỗi gần chìm.
7 Turahinah wa ta afe’en hima’am na baibaisih isan himan, naatu turahinah hina bairi siy hibow wa rou’ab hiwan yen awah karatan, wa hairi kafa’imo hita’unun.
8 Xi-môn Phia-rơ thấy vậy liền quì trước mặt Chúa Giê-xu và thưa, “Lạy Chúa xin ra khỏi con vì con là người tội lỗi.”
8 Abisa matar Simon Peter i’itin ana maramaim Jesu nanamaim sun yowen re eo, “Regah, kwihamiyu sa’ab kwen, ayu i bowabow kakafin wairafu.”
9 Ông và mấy người đánh cá kia kinh ngạc vì số cá đánh được.
9 Naatu Simon ana ofonah bairi siy moumurih na’in hibowabow isan hifofofor men kafaita.
10 Gia-cơ và Giăng, con của Xê-bê-đê, cũng vậy. Hai người đó là bạn đồng nghiệp với Xi-môn.
10 Zebedee natunatun James naatu John hairi auman hifofofor men kafaita (Simon ana ofonah).
11 Sau khi đưa thuyền vào bờ, họ liền bỏ tất cả để đi theo Ngài.
11 Naatu wa hibow hirun dones yan hitain hiyen, sawar etei’imak hihamiyen himisir Jesu hi’ufunun bairi hin.
12 Lúc Chúa Giê-xu đến một trong những tỉnh miền ấy thì có một người mắc bệnh cùi, lở lói đầy mình. Trông thấy Chúa Giê-xu, anh ta quì xuống van xin, “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Ngài có thể chữa lành cho con được.”
12 Ana veya ta Jesu tafaram ta in orot biyan kokom ani’anin ma bi’akiramaim tit. Orot Jesu i’itin ana maramaim tit nanamaim sun yowen ifefeyan eo “Regah inakokok na’at basit iniyawasu!”
13 Chúa Giê-xu giơ tay rờ anh và nói, “Ta muốn. Hãy lành bệnh đi!” Tức thì bệnh biến mất.
13 Jesu uman bora’ah orot butubun eo, “Ayu akokok o inayawas!” Iti na’at eo mar ta’imon orot biyanamaim kokom etei na’am in sawar.
14 Rồi Chúa Giê-xu dặn anh, “Đừng cho ai biết việc nầy, nhưng hãy đi trình diện thầy tế lễ và dâng của lễ để chứng nhận anh lành bệnh theo như Mô-se qui định. Như thế cho mọi người thấy anh đã lành.”
14 Jesu orot eofafar eo “Men sabuw hai tur ina’owen, baise, inan a firis biyan inatit biya nanutitiy na’itin. Imaibo Moses iu’uwi na’atube Regah isan sibor inayai, saise sabuw hina’itin hinitumatum o biya i turobe igewasin.”
15 Nhưng tin đồn về Ngài lại càng lan rộng hơn nữa. Nhiều người đến nghe Ngài giảng dạy và được chữa lành.
15 Baise Jesu ana tur ra’at tasasar tit etei’imak hinowar, sabuw rau’ay gagamin na’in hina ana tur hinowar naatu baiyawasih isan hifefeyan iyawasih.
16 Tuy nhiên Chúa Giê-xu hay đi lánh một mình để cầu nguyện.
16 Baise mar etei Jesu efan nautanubinamaim akisinamo ma yoyoban isan en ema eyoyoyoban.
17 Một ngày nọ, Chúa Giê-xu đang dạy dỗ dân chúng, trong đó có cả những người Pha-ri-xi cùng các giáo sư luật đến từ các tỉnh miền Ga-li-lê, Giu-đia và Giê-ru-sa-lem. Thượng Đế ban quyền cho Ngài chữa lành nhiều người.
17 Veya ta Jesu binan sabuw hima hinonowar wanawanahimaim i Pharisee naatu Ofafar Bai’obaiyenayah hina hima tur hinowar. Iti sabuw i tafaram Galilee naatu Judea wanawanan bar merar tata’ane hina, naatu Jerusalemane auman hina. Nati ana maramaim yawas ana fair Regah biyanane i na Jesu biyan tit sabuw sawusawuwih baiyawasih isan.
18 Ngay lúc đó, có mấy người khiêng một người bại nằm trên cáng. Họ tìm cách khiêng anh đến trước mặt Chúa Giê-xu,
18 Sabuw afa orot an uman Kafikafirin hibai emo’em hiwan hi’abar hina, hikok kwanekwan bar wanawanan hitarun Jesu nanamaim hitayare.
19 nhưng không được vì dân chúng chen chúc quá đông. Cho nên họ leo lên mái rồi thòng cáng của người bại xuống qua một khoảng trống trên trần nhà giữa đám đông ngay trước mặt Chúa Giê-xu.
19 Baise sabuw i ra’at kwanekwan men ana mahar ta ma boro orot hitab hitarun. Imih hibai hiyen bar faifiy afe’en hiyare, kabay hibosaisiren sou hikuyouw imaim orot emo’em auman hiruru sabuw hima’am hai founafoun ra’iy, Jesu ma’am nanamaim tit. Orot kwafe’en faifiy wan hitarakwib orot an uman kafilafirin hruru ere’er|alt="men making hole in roof for paralytic" src="CN01686B.TIF" size="col" loc="Luk 5.19" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="5.19"
20 Nhìn thấy đức tin của họ, Chúa Giê-xu bảo, “Bạn ơi, tội bạn được tha rồi.”
20 Jesu iti sabuw hai baitumatum itin basit orot isan eo, “Au begon o a bowabow kakafih i anotanotawiyen.”
21 Mấy giáo sư luật và các người Pha-ri-xi nghĩ thầm, “Ông nầy là ai mà ăn nói ngang nhiên như mình là Trời vậy? Chỉ có một mình Trời mới có quyền tha tội được thôi.”
21 Pharisee naatu Ofafar bai’obaiyenayah hima’ama taiyuwih hio, “Iti orot i menatan God ebi’ib? God akisinamo boro bowabow kakafih nanotawiyen.”
22 Nhưng Chúa Giê-xu biết ý nghĩ họ, nên Ngài nói, “Tại sao các ông nghĩ thầm như thế?
22 Abisa hinotanot Jesu so’ob basit iuwih, “Kwa dogor wanawanah not kakafih nati na’atube aisim kwanotanot?
23 Giữa hai điều nầy, điều nào dễ tin hơn: Hoặc là nói, ‘Tội anh đã được tha,’ hay là nói, ‘Hãy đứng dậy đi’?
23 Ef menatan i hamehamen, ana bowabow kakafih notawiyen isan anao, i hamehamen o misir bat remor, isan anao i hamehamen?
24 Nhưng tôi sẽ chứng tỏ cho các ông biết Con Người có quyền tha tội.” Nên Chúa Giê-xu nói với người bại, “Tôi bảo anh đứng dậy, cuốn chăn chiếu đi về nhà.”
24 Baise ayu anasinaf kwana’itin saise kwanitumatum. Orot Natun i God eonowah tafaramamaim sabuw hai bowabow kakafih notawiyen isan.” Basit Jesu orot an auman kafikafirin isan eo, “Kumisir a emo’em kubai a ubar kwen!”
25 Anh liền đứng phắt dậy, cuốn chăn chiếu và vừa đi về nhà, vừa ca ngợi Thượng Đế.
25 Orot mar ta’imonamo nahifunik inu’in misir ana emo’em bai e’abar tit God ana merar yi bora’ara’ah auman ana ubar in.
26 Dân chúng vô cùng kinh ngạc và ca tụng Thượng Đế. Họ đầy lòng ngưỡng mộ và thốt lên, “Hôm nay chúng ta được thấy những điều kỳ diệu!”
26 Sabuw etei’imak hima’am hifofofor men kafaita, yah birubir fafar auman, naatu God ana merar hiyi hibora’ara’ah hio, “Ina’inan iti men na’atube ta’i’itin efa’efanin bounabo matar taitin.”
27 Chúa Giê-xu đi ra, thấy một nhân viên thu thuế tên Lê-vi đang ngồi ở trạm. Chúa Giê-xu bảo ông, “Hãy theo ta!”
27 Iti ufunamaim Jesu tit in orot kabay o’onayan wabin Levi ana bowabow baremaim ma’am itin basit isan eo, “Kumisir ayu kwi’ufnunu.”
28 Lê-vi liền đứng dậy, bỏ tất cả để đi theo Ngài.
28 Levi ma’am misir sawar etei’imak ihamiyen Jesu i’ufunun.
29 Sau đó ông làm tiệc lớn thết đãi Chúa Giê-xu tại nhà mình. Cũng có nhiều nhân viên thu thuế và những người khác cùng dự bữa ăn nữa.
29 Levi baitab gagamin ta ana baremaim Jesu isan itab, Levi ana ofonah bairi hai bowabow ta’imon naatu sabuw afa auman hiru’ay.
30 Nhưng các người Pha-ri-xi và những giáo sư dạy luật giùm người Pha-ri-xi phàn nàn với các môn đệ Chúa Giê-xu, “Tại sao mấy anh ăn chung với bọn thu thuế và kẻ có tội như thế?”
30 Pharisee naatu Ofafar bai’obaiyenayah himisir higam Jesu ana bai’ufununayah hibatiyih, “Kwa aisim nati kabay o’onayah naatu bowabow kakafih sabuw bairi kwama kwa’aa kwatomatom?”
31 Chúa Giê-xu đáp, “Người khoẻ mạnh đâu cần bác sĩ. Chỉ có người bệnh mới cần.
31 Jesu iyafutih eo, “Sabuw iyab gewasih adanafur orot men tekokok, baise sabuw sawow wairafih adanafur orot i tekokok.
32 Ta đến không phải để kêu gọi người tốt mà là kêu gọi tội nhân ăn năn.”
32 Ayu i men sabuw gewasih bow dogoroh baikitabirin isan anamih, baise sabuw bowabow kakafin wairafih.”
33 Họ hỏi Chúa Giê-xu, “Các môn đệ của Giăng thường cữ ăn một thời gian và cầu nguyện như người Pha-ri-xi hay làm. Còn các môn đệ thầy lúc nào cũng ăn uống.”
33 Sabuw afa Jesu hibatiy hio, “John ana bai’ufununayah i mar etei teyohar teyoyoyoban naatu Pharisee hai bai’ufununayah i na’atube tisisinaf, baise o abai’ufununayah i hi’aa tetomatom.”
34 Chúa Giê-xu đáp, “Các ông có thể nào bắt khách dự tiệc cưới của chú rể cữ ăn lúc tiệc đang diễn tiến không?
34 Jesu iyafutih eo, “Kwanotanot tabin boubun ana sabuw a baitab isan hinaruru’ay boro na’uwih aamoromorob hinamatabir maiye hinan? Men karam.
35 Khi nào chú rể ra đi thì lúc ấy họ mới cữ ăn.”
35 Baise veya ta tabin boubun orot boro hinabosair sa’ab nan ana sabuw nihamiyih, imaibo i boro hinayohar.”
36 Ngài bảo họ như sau, “Không ai cắt vải của áo mới để vá lỗ rách của áo cũ. Vì làm như thế sẽ hư áo mới, còn miếng vải của áo mới cũng không cùng màu với áo cũ.
36 Naatu Jesu oroubon ta iti na’atube eo, “Men yait ta faifuw boubun e’afuw faifuw atamanin fitimih, nati na’atube nasinaf faifuw boubun boro natakweb. Naatu faifuw boubun hinab atamanin hinafitifit ana itinin boro men gewasin.
37 Cũng vậy, không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ vì rượu mới sẽ làm nứt bầu, rượu đổ ra mất mà bầu cũng bị hư.
37 Na’atube men yait ta wine boubun bai wine atamanin ana kibubumaim ririmih. Anayabin wine boubun ana kibub inab atamaninamaim inaririr wine boro nara’at kibub atamanin natafofor naatu wine nasuwa nare.
38 Rượu mới phải đựng trong bầu da mới.
38 Imih wine boubun ibo kibub boubunamaim tiririr.
39 Không ai uống rượu cũ mà còn đòi rượu mới vì người đó sẽ bảo, ‘Rượu cũ ngon hơn.’”
39 Baise men yait ta wine atamanin tomatom ufunamaim wine boubun tom isan kokomih, aiyab. Anayabin nati orot iti na’atube eo, “Wine atamanin i gewasin anababatun.”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 5, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.