Lucas 4
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Chúa Giê-xu được đầy dẫy Thánh Linh từ sông Giô-đanh trở về. Thánh Linh đưa Ngài vào vùng đồng hoang
1 Jesu biyan tutufin etei God Anun Kakafiyin karatan Jordan harewane matabir yen naatu Anun Kakafiyin i’unawiy in Judea arar yan tit.
2 để ma quỉ cám dỗ trong bốn mươi ngày. Ngài cữ ăn suốt thời gian ấy nên sau thì Ngài đói lả.
2 Nati’imaim veya etei 40 bay en ma’am ufunamaim bayumih morob. Naatu nati ana maramaim Demon Mowan na routobon itin,
3 Ma quỉ mới nói với Ngài, “Nếu anh là Con Thượng Đế, hãy biến đá nầy thành bánh đi.”
3 eo, “O i God Natun na’at, kabay iti ku’uwih tebotabir rafiy tematar ku’aa.”
4 Chúa Giê-xu đáp, “Nhưng Thánh Kinh viết:
4 Baise Jesu iya’afut eo, “Buk Atamaninamaim hikirum hio, ‘Orot men bayumaim akisin niyawasimih.’”
5 Ma quỉ liền mang Chúa Giê-xu lên một nơi cao và chỉ cho Ngài thấy mọi nước trên thế gian trong chốc lát.
5 Naatu Demon Mowan Jesu i’unawiy maiye hiyen hin koun yan bat, imatanubamo tafaram tutufin etei itin.
6 Nó bảo Ngài, “Tôi sẽ cho anh hết các quốc gia nầy luôn cả quyền lực và vinh quang của chúng. Vì tất cả đều đã được giao cho tôi, nên tôi muốn cho ai tùy ý.
6 Naatu Demon Mowan eo, “Ayu boro fair etei o anit naatu tafaram ana aiwob auman boro anit. Anayabin etei’imak ayu hitu, ayu orot yait arurubin boro i anitin nab.
7 Nếu anh chịu bái lạy tôi, tôi sẽ cho anh hết.”
7 Imih O ayu inakwakwafiru na’at, iti sawar etei boro o nowamih anit.”
8 Chúa Giê-xu đáp, “Thánh Kinh dạy:
8 Jesu iya’afut eo, “Buk Atamaninamaim hikirum hio, ‘A Regah a God akisinamo inakwafir isan inabow.’”
9 Sau đó ma quỉ đưa Chúa Giê-xu đến thành Giê-ru-sa-lem và đặt Ngài lên một đỉnh cao của đền thờ. Nó nói với Ngài, “Nếu anh là Con Thượng Đế, hãy nhảy xuống đi.
9 Naatu iban maiye Demon Mowan Jesu bai nawiy hin Jerusalem hitit, hiyen hin Tafaror Bar tafantoro’ot bat naatu iu, “O God Natun na’at, kukununuw kura’iy.
10 Vì có lời Thánh Kinh ghi:
10 Anayabin Buk Atamaninamaim hikirum hio, ‘God boro ana tounamatar na’uwih hinatafafari,
11 Cũng có lời viết:
11 umah yanamaim inare hinabuwi, boro men kabay a narab natakakirimih.’”
12 Chúa Giê-xu đáp, “Nhưng cũng có lời Thánh Kinh ghi: ‘Ngươi chớ nên thách thức Chúa là Thượng Đế ngươi.’”
12 Baise Jesu iya’afut iu, “Buk Atamaninamaim hikirum hio, ‘A Regah a God men routobon initinimih.’”
13 Sau khi tìm đủ cách cám dỗ Chúa Giê-xu, ma quỉ liền bỏ đi, chờ cơ hội khác.
13 Demon Mowan routobon ta ta Jesu bitin ufunamaim itumar tabaratait tit mar kafai ufunamaim bat.
14 Chúa Giê-xu trở lại miền Ga-li-lê với đầy năng quyền của Thánh Linh. Danh tiếng Ngài đồn ra khắp cả miền ấy.
14 Imaibo Jesu God Anun Kakafiyin ana fair bai auman matabir na Galilee tit. Ana tur ra’at tasasar tit tafaram nati sisibinamaim hima’am etei’imak hinowar.
15 Ngài bắt đầu giảng dạy trong các hội đường, mọi người đều ca tụng Ngài.
15 Kou’ay Bar wanawanan run bi’obaibiyih sabuw etei’imak tur hinonowar, hifai hibora’ara’ah.
16 Chúa Giê-xu trở về Na-xa-rét là nơi sinh trưởng. Vào ngày Sa-bát, theo thói quen, Ngài vào hội đường và đứng dậy đọc.
16 Jesu remor na Nazareth tit, bar merar i ma rara’atamaim, Baiyarir ana veya matanfufur isisinaf na’atube, in Kou’ay Bar run, Buk ta baiyab isan misir.
17 Có người đưa cho Ngài sách tiên tri Ê-sai. Ngài mở ra gặp chỗ viết:
17 Naatu dinab orot Isaiah ana buk hibai Jesu hitin, bai rusasar tur iti na’atube hikirum inu’in ana efanamaim tit.
18 Chúa đặt Thần Linh Ngài trong ta,
18 “Regah Anun Kakafiyin i ayu wanawana’umaim ema’am,
19 và báo tin thời kỳ Chúa sẽ bày tỏ lòng nhân từ của Ngài. Ê-sai 61:1–2
19 Naatu anakurereb sabuw hinanowar
20 Chúa Giê-xu xếp sách lại, trao cho người giữ và ngồi xuống. Mọi người có mặt trong hội đường nhìn Ngài chăm chú.
20 Jesu buk itakum orot kaifenayan itin i mara’iy. Sabuw Kou’ay Bar wanawanan hima’am etei’imak matah hito’ab Jesu hi’itin kikin.
21 Ngài bảo, “Hôm nay, những lời các ông bà vừa mới nghe đang được thực hiện!”
21 Baise Jesu misir busuruf sabuw hai tur eowen eo, “Tur iti aiyab kwananowar i boun na iturobe.”
22 Mọi người đều nói tốt về Ngài. Họ lấy làm ngạc nhiên về những lời kỳ diệu mà Ngài nói ra. Họ hỏi nhau, “Đây có phải là con Giô-xép không?”
22 Sabuw etei’imak nati’imaim hima Jesu eo hinonowar hio, “Turobe iti orot ana tur i gewasin.” Naatu tur mumunin bitan eo hinonowar isan hifofofor, naatu taiyuwih hibatiyih hio, “Iti orot i Joseph natun?”
23 Chúa Giê-xu bảo họ, “Tôi biết các ông bà muốn nói với tôi câu ngạn ngữ: ‘Ông bác sĩ ơi, hãy tự chữa mình đi.’ Các ông bà muốn nói, ‘Những gì chúng tôi nghe ông làm ở Ca-bê-nâm thì cũng hãy làm tại tỉnh nhà nầy đi!’”
23 Naatu Jesu iuwih eo, “Binan tur gewasin matan fufur sabuw teo’omaim boro kwana’uwu kwanao, ‘Adanafur ana orot, taiyuw kwiyawasi.’ Naatu iban boro kwana’uwu maiye, ‘Capernaum ma bow bigan tanonowar na’atube, iti ana bar ana meraramaim nabow tana’itin.’”
24 Rồi Chúa Giê-xu nói, “Tôi bảo thật, nhà tiên tri không bao giờ được chấp nhận nơi quê quán của mình cả.
24 Jesu iban maiye iuwih eo, “Anababatun a tur ao’owen, dinab orot ana bar ana meraramaim boro men ana merar hinay hinabaimih.
25 Thật vậy, vào thời Ê-li có rất nhiều bà góa trong Ít-ra-en. Suốt ba năm rưỡi đằng đẵng, khắp nước Ít-ra-en không có một giọt mưa, cả xứ không nơi nào có thức ăn.
25 Naatu tur anababatun a tur ana’owen, Elijah ma’am ana veya’amaim kwafukwafur maumurih na’in Israel wanawanan hima’am afow matar. Nati ana veya’amaim kwamur etei tounu naatu sumar six na’atube toun men yar, baimar kakafin na, nati tafaram wanawananamaim bar merar etei’imak bay i’en.
26 Nhưng Ê-li không được sai đến với bà nào trong số đó cả mà lại được sai đến với một bà góa ở Xa-rép-ta, một tỉnh thuộc Xi-đôn.
26 Nati ana veya’amaim God men Elijah iyafar Israel wanawanan kwafur babin ta ibaisimih, baise Sidon wanawanan Zarepat bar meraramaim kwafur babin ta’imon ma’am isan God iyafar in tit baibais itin.
27 Trong thời nhà tiên tri Ê-li-sê có rất nhiều người mắc bệnh cùi trong Ít-ra-en nhưng không có một ai được chữa lành, chỉ một mình Na-a-man, người xứ Xy-ri thôi.”
27 Naatu dinab orot Elisha ma’am ana veya Israel sabuw moumurih maiyow kokom ani’anih hima’ama men yait ta na Elisha iyawasimih, baise tafaram Syria orot wabin Naaman akisinamo na Elisha iyawas.”
28 Khi dân chúng trong hội đường nghe những chuyện ấy thì tức giận.
28 Sabuw Kou’ay Bar wanawanan hima iti tur hinonowar ana veya, yah wanawanan so’aso’ar yen higagamat,
29 Họ đứng dậy, đẩy Ngài ra khỏi thành phố, lôi Ngài đến bờ vực nơi thành phố được xây, định xô Ngài xuống.
29 himisir Jesu hibai hitain ufun hitit, bar merar hitumar, hiyen fan tafan hibat hitarouw fan tare’emih hiwa’an, anayabin bar merar i fan tafan hiwowab hima’am.
30 Nhưng Chúa Giê-xu lách qua giữa đám đông và đi khỏi.
30 Baise Jesu sabuw rau’ay gagamin hibatabat umah aren sorabon hai foun remor tit in.
31 Chúa Giê-xu đến Ca-bê-nâm, một thị trấn miền Ga-li-lê và vào ngày Sa-bát, Ngài dạy dỗ dân chúng.
31 Jesu na Galilee wanawananamaim bar merar ta wabin Capernaum imaim tit, Baiyarir ana veya run sabuw i’obaibiyih hima hinonowar.
32 Họ rất ngạc nhiên về lối dạy dỗ của Ngài, vì Ngài dạy bằng quyền năng.
32 Sabuw etei’imak hifofofor men kafaita. Anayabin ana tur eo i tur anababatun naatu fairin.
33 Trong hội đường có một người đang bị ác quỉ ám. Anh la lớn,
33 Nati Kou’ay Baremaim orot ta wagabur iwan demon kakafin anababatun auman na run ma’am, fanan aumetawat na’in iwow eo,
34 “Giê-xu người Na-xa-rét ơi! Ngài muốn làm gì chúng tôi đây? Có phải Ngài đến để diệt chúng tôi không? Tôi biết Ngài là ai—Ngài là Đấng Thánh của Thượng Đế!”
34 “Hei! Aki isai abisa inasinafumih kunan? Aki gurusi’imih? Jesu Nazareth mowan. Ayu aso’ob. O i yait, O i God ana tur abarayan Orot Kakafiyin.”
35 Chúa Giê-xu mắng quỉ, “Im đi! Ra khỏi người nầy ngay!” Ác quỉ vật anh xuống đất trước mặt mọi người, rồi ra khỏi mà không gây thương tích gì cho anh.
35 Jesu wagabur mowan kwarartatab eo, “Yate inbainub orot biyanamaim kutit!” Wagabur mowan sabuw nahimaim orot itaiy re tabaratait tit, men isan abisa ta sinafumih.
36 Dân chúng vô cùng kinh ngạc bảo nhau, “Việc nầy là nghĩa làm sao? Ngài dùng quyền năng ra lệnh cho tà ma, đuổi chúng ra khỏi người ta.”
36 Baise Sabuw etei’imak hai baifofofor ra’at, taiyuwih hibabatiyih hio, “Iti orot ana tur i fair kwanekwan. Ana onowaten naatu ana fair auman iti tur eo demon kakafih biyunih i hitit!”
37 Thế là danh tiếng Ngài đồn ra khắp vùng ấy.
37 Naatu Jesu abisa sisinaf isan ana tur tasasar tit tafaram nati hima’am wanawanan etei hinowar.
38 Rời hội đường, Chúa Giê-xu đi đến nhà Xi-môn. Bà mẹ vợ của Xi-môn đang lên cơn sốt nặng. Người ta xin Ngài chữa cho bà.
38 Jesu misir Kou’ay Bar itumar tit na Simon ana bar tit, Simon rawan babin sawow biyan fora’ab anababatun inu’in, sabuw Jesu hifefeyan baiyawasinamih hio.
39 Chúa Giê-xu đến bên giường ra lệnh cho cơn sốt. Cơn sốt dứt, bà lập tức ngồi dậy và phục vụ mọi người.
39 Basit Jesu na babin inu’in sisibin tit bat sawow i’ari’ar naatu sawow babin biyanane tit, babin yawas misir bay bow eafusar itab hi’aa.
40 Khi mặt trời lặn, dân chúng mang những người bệnh đến với Chúa Giê-xu. Ngài đặt tay trên từng người và chữa lành cho tất cả.
40 Veya re’er ufunamaim, sabuw sawow yumatah ta ta hibow hi’inu’in, turahinah hibuwih hina Jesu biyan hitit, sabuw ta’ita’imon butubutubunih etei’imak hiyawas.
41 Tà ma cũng ra khỏi nhiều người và la lớn, “Ngài là Con Thượng Đế.” Nhưng Chúa Giê-xu cấm chúng không được nói ra vì chúng nó biết Ngài là Đấng Cứu Thế.
41 Sabuw moumurih na’in auman biyahine demon kakafih hitit hiwow hio, “O i God Natun!” Baise Jesu demon awah bofafaren men karam boro hitao’rereb. Anayabin demon hiso’ob Jesu i Roubininenayan.
42 Sáng sớm tinh sương, Chúa Giê-xu ra nơi vắng vẻ. Dân chúng kéo nhau đi tìm Ngài. Khi tìm được rồi, họ muốn giữ Ngài lại không cho đi.
42 Martot auman Jesu nati bar merar itumar tit in efan ta nautanubinamaim akisinamo ma. Baise sabuw hinuwih hinan hititita’ur ana veya, bairi nati’imaim ma isan hi’otan.
43 Nhưng Chúa Giê-xu bảo họ, “Ta phải rao giảng Nước Trời cho các tỉnh khác nữa. Vì lý do ấy mà Thượng Đế sai ta đến.”
43 Baise Jesu iuwih eo, “Ayu boro anan God ana aiwob isan tur gewasin bar merar afa’amaim auman anabinan hinanowar. Anayabin ayu nati bowabow isan God iyunu ana.”
44 Rồi Ngài tiếp tục giảng dạy trong các hội đường miền Giu-đia.
44 Naatu Jesu tafaram Judea wanawananamaim Kou’ay Bar etei run tit binan remor.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 4, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.