Lucas 3

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Vào năm thứ mười lăm triều đại Xê-xa Ti-bê-ri; những nhân vật sau đây ở dưới quyền Xê-xa:
1 Roman sabuw hai orot gagamin wabin Caesar Taibirias bi’aiwob ana kwamur 15 baib wanawananamaim Pontius Pilate i Judea wanawanan igawan, Herod i Galilee isan igawan, naatu tain Philip i tafaram Iturea naatu Trakonaitis hairi isah igawan naatu; Lysanias i tafaram Abilene isan igawan.
2 An-na và Cai-pha làm chức tế lễ tối cao. Lúc ấy có lời của Thượng Đế bảo với Giăng, con của Xa-cha-ri trong đồng hoang.
2 Naatu Annas Kaiafas hairi i firis gagamih. Nati ana maramaim Zechariah natun John arar yan ma’am God ana tur na biyan tit.
3 Ông đi khắp vùng quanh sông Giô-đanh giảng lễ báp-têm về sự ăn năn để được tha tội.
3 Basit misir tit harew Jordan, sisibinamaim tafaram ta ta run tit binan eo, “Kakafih kwasisinaf kwanihamiyen kwanan bapataito anit saise God boro a kakafih nanotawiyen.”
4 Như sách tiên tri Ê-sai viết:
4 God ana dinab orot Isaiah ana Bukamaim kikirum na’atube eo,
5 Mọi thung lũng phải được lấp bằng,
5 Awa’awah etei kwanatounen hinayen hinituturin,
6 Mọi người sẽ biết sự cứu rỗi của Thượng Đế!’” Ê-sai 40:3-5
6 Sabuw tutufin etei God baiyawasenayan nabiyafar boro hina’itin!’”
7 Giăng bảo những người đến để chịu lễ báp-têm rằng, “Mấy anh là loài rắn độc! Ai đã cảnh cáo để các anh tránh khỏi cơn trừng phạt sắp đến của Thượng Đế?
7 Sabuw rau’ay gagamin John bapataito baitih isan hinan iuwih eo, “Kok natunatun! Yait imatnuwi God ana baimakiy nabiyafar boro wan kwanabibir? Men kwananot kwanao, ayu bapataito abai imih boro natafafaru en.
8 Hãy kết quả để chứng tỏ mình đã thực sự ăn năn. Đừng tự khoe, ‘Áp-ra-ham là ông tổ chúng tôi.’ Tôi nói cho các anh biết rằng Thượng Đế có thể biến các viên đá nầy ra con cháu Áp-ra-ham được đó.
8 Baise wantoro’ot i a yawas nigewasin kwanama saise nati’imaim boro kwa isa niturobe bowabow kakafih kwasisinaf etei kwaihamiyen. Naatu men kwanao, Abraham i aki ai agir imih God boro men baimakiy niti! Baise a tur ao’owen God karam kabay iti nabow niwa’an Abraham wawawan hinamatar.
9 Bây giờ cái rìu đã đặt nơi rễ cây, sẵn sàng để đốn. Cây nào không sinh trái tốt đều sẽ bị chặt hết để chụm lửa.”
9 Ai tebiw ro’oro’oh men gewasih i boro hinatar wairaf wah hinayara’aten hina’arat, imih kariwak i ai tarinamih hiya’ataitik inu’in.”
10 Dân chúng hỏi Giăng, “Vậy chúng tôi phải làm gì?”
10 Sabuw hibatiy, “Bo aki boro mi’itube ana sinaf?”
11 Giăng đáp, “Nếu ai có hai áo, hãy chia một cái cho người không có áo. Còn ai có thức ăn, cũng làm như vậy.”
11 Iyafutih eo, “O yait isa biya baibiyon rou’ab hinama’am ta inab menatan isan biya baibiyon en initin, naatu yait isan bay nakakaram nafaram.”
12 Ngay cả những nhân viên thu thuế cũng đến với Giăng để chịu lễ báp-têm. Họ hỏi, “Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì?”
12 Kabay o’onayah bapataito bainamih hina hitit hibatiy, “Bai’obaiyenayan aki boro mi’itube ana sinaf?”
13 Giăng đáp, “Đừng đòi nhiều hơn số thuế mà các ông được chỉ thị phải thu.”
13 “Kwa kabay o’onamih hio hibiyuni na’atube ana fofonin kwana’o’on men tafan kwanayara’ah auman kwana’o’onamih.”
14 Các quân nhân cũng hỏi, “Còn chúng tôi thì sao? Chúng tôi phải làm gì?”
14 Roman baiyowayah orot afa auman hio, “Bo aki i boro mi’itube?” Iuwih eo, “Sabuw men kwanao kikinih kabay hinitimih o men baifuwenamaim hai kabay kwanabowamih, baise a bowabow isan a baiyan hinabit i kwaniyasisir.”
15 Vì dân chúng đang trông mong Đấng Cứu Thế đến nên họ tự hỏi không biết Giăng có phải là Đấng ấy không.
15 Sabuw hai notamaim hinotanot John i baiyawasenayan.
16 Giăng bảo với mọi người, “Tôi làm lễ báp-têm cho các anh bằng nước, nhưng có một Đấng sẽ đến, còn cao trọng hơn tôi. Tôi không xứng đáng cúi xuống mở dép cho Ngài. Ngài sẽ làm báp-têm cho các anh bằng Thánh Linh và bằng lửa.
16 Imih John iuwih eo, “Ayu i harewamaim bapataito abit, baise orot ta boro enan ana fair i ra’at. Ayu i men gewasu boro an ana baibiyon anaku’ub. I boro Anun Kakafiyin naatu wairafamaim bapataito nit.
17 Ngài đến để dùng nia sàng sạch sân lúa, tách lúa và trấu ra. Lúa thì chứa vào vựa còn trấu thì đốt hết trong lửa không bao giờ tắt.”
17 I umanamaim i roububuna’en ana sawar auman bai enan, boro imaim wheat narububunai ani’anin korom nayai, naatu hain boro nabow nan wairaf wanatowanin in etoto’ab wan naya na’afusar.”
18 Giăng còn giảng thêm nữa về Tin Mừng, dùng nhiều điều để khích lệ dân chúng.
18 John ef maumurih maiyow sabuw isah binan naatu hai yawas auman botabirinamih iuwih.
19 Nhưng Giăng can ngăn Hê-rốt, là quan tổng đốc, vì Hê-rốt phạm tội với Hê-rô-đia, vợ của em trai mình và vì những điều độc ác khác mà Hê-rốt làm.
19 Baise Herod tuwah aawan Herodias bi’aawan isan, naatu bowabow kakafih maumurih maiyow sisinaf isan John kwarar yayamutufur ana maramaim
20 Hê-rốt lại còn làm một điều tệ hại hơn nữa là tống giam Giăng vào ngục.
20 Herod ibanaka sinaf kakafin tabow sinaf John bai dibur bar yari’iy.
21 Khi Giăng làm lễ báp-têm thì Chúa Giê-xu cũng chịu báp-têm cùng với mọi người. Trong khi Ngài đang cầu nguyện thì thiên đàng mở ra.
21 Sabuw etei’imak bapataito hibaib ufunamaim, Jesu auman ibapataito. Naatu yoyoyoban ana maramaim mar botawiy,
22 Thánh Linh lấy dạng chim bồ câu đậu trên Ngài. Rồi có tiếng vọng từ thiên đàng rằng, “Con là Con yêu dấu của ta, ta rất vừa lòng về con.”
22 Anun Kakafiyin marane mamu imakabe ra’iy targabuw. Naatu orot fanan marane tit. “O i ayu Natu ta’imonamo. O isa ayu abiyasisir.”
23 Khi Chúa Giê-xu bắt đầu thi hành chức vụ thì Ngài độ ba mươi tuổi. Người ta tin rằng Ngài là con Giô-xép.
23 Jesu ana kwamur 30 imaim ana bowabow busuruf. Sabuw hisoso’ob Jesu i Joseph natun imih Joseph isan hinot, Joseph tamah i Heli,
24 Hê-li con Ma-thát.
24 Heli tamah i Mathat, Mathat tamah i Levi, Levi tamah i Melkai, Melkai tamah i Jannai, Jannai tamah i Joseph,
25 Giô-xép con Ma-ta-thia.
25 Joseph tamah i Matathias, Matathias tamah i Amos, Amos tamah i Nahum, Nahum tamah i Esli, Esli tamah i Naggai,
26 Na-gai con Ma-át.
26 Naggai tamah i Maatah, Maatah tamah i Matathias, Matathias tamah i Semein, Semein tamah i Josech, Josech tamah i Joda,
27 Giô-đa con Giô-a-nan.
27 Joda tamah i Joanan, Joanan tamah i Rhesa, Rhesa tamah i Zerubbabel, Zerubbabel tamah i Shealtiel, Shealtiel tamah i Neri,
28 Nê-ri con Mên-chi.
28 Neri tamah i Melkai, Melkai tamah i Addi, Addi tamah i Cosam, Cosam tamah i Elmadam, Elmadam tamah i Er,
29 Ê-rơ con Giô-suê.
29 Er tamah i Joshua, Joshua tamah i Eliezer, Eliezer tamah i Jorim, Jorim tamah i Mathat, Mathat tamah i Levi
30 Lê-vi con Xi-mê-ôn.
30 Levi tamah i Simeon, Simeon tamah i Judah, Judah tamah i Joseph, Joseph tamah i Jonam, Jonam tamah i Eliakim,
31 Ê-li-a-kim con Mê-lia.
31 Eliakim tamah i Melea, Melea tamah i Menna, Menna tamah i Matatha, Matatha tamah i Nathan, Nathan tamah i David,
32 Đa-vít con Gie-xê.
32 David tamah i Jesse, Jesse tamah i Obed, Obed tamah i Boaz, Boaz tamah i Salmon, Salmon tamah i Nashon,
33 Na-ách-son con A-mi-na-đáp.
33 Nashon tamah i Aminadab, Aminadab tamah i Admin, Admin tamah i Arni, Arni tamah i Hezron, Hezron tamah i Perez, Perez tamah i Judah,
34 Giu-đa con Gia-cốp.
34 Judah tamah i Jacob, Jacob tamah i Isaac, Isaac tamah i Abraham, Abraham tamah i Terah, Terah tamah i Nahor,
35 Na-ho con Xê-rúc.
35 Nahor tamah i Serug, Serug tamah i Reu, Reu tamah i Peleg, Peleg tamah i Eber, Eber tamah i Shelah,
36 Sê-la con Cai-nan.
36 Shelah tamah i Cainan, Cainan tamah i Arafasad, Arafasad tamah i Shem, Shem tamah i Noah, Noah tamah i Lamech,
37 La-méc con Mê-tu-sê-la.
37 Lamech tamah i Methuselah, Methuselah tamah i Enoch, Enoch tamah i Jared, Jared tamah i Mahalalel, Mahalalel tamah i Cainan,
38 Kê-nan con Ê-nóc.
38 Cainan tamah i Enos, Enos tamah i Seth, Seth tamah i Adam, Adam tamah i God.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 3, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.