Lucas 2

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Lúc ấy Xê-xa Au-gút-tơ ra sắc lệnh cho tất cả công dân thuộc các quốc gia dưới quyền của đế quốc La-mã phải đăng bộ.
1 Nati ana veya, sabuw iyab Roman gawan babanamaim hima’am wabih bukamaim kirum isan Caesar Augustus iuwih.
2 Đây là lần đăng bộ đầu tiên được thực hiện khi Qui-ri-niu làm tổng đốc xứ Xy-ri.
2 Sabuw baiyab isan marasika i men hiyab, baise Quirinius tafaram Syria isan bigawan ana veya imaibo hibusuruf sabuw hiyab wabih bukamaim hikirum.
3 Mọi người đều trở về nguyên quán để đăng bộ.
3 Nati baiyab ana veya’amaim sabuw etei hin hai bar merar gagamihimaim hitit wabih bukamaim hikirum.
4 Vì Giô-xép thuộc dòng họ Đa-vít, nên ông từ Na-xa-rét, một thị trấn miền Ga-li-lê, đi đến Bết-lê-hem thuộc miền Giu-đia, cũng gọi là thành Đa-vít.
4 Joseph auman tafaram Galilee wanawanan bar merar ta wabin Nazareth imaim ma’am yen na Judea wanawanan bar merar ta wabin Bethlehem imaim tit, aiwob orot David ana tutufuw efan. Joseph na nati’imaim tit, anayabin i David uwan ta.
5 Ông đăng bộ cùng với Ma-ri là người đã hứa hôn với mình, lúc ấy đang mang thai.
5 Naatu Joseph nati’imaim in titit ana’an ta i Mary hairi tabin isan hi’omatanih hima’am, imih hairi wabih bukamaim kirumin isan hiyen hin. Nati ana veya Mary i yan auman,
6 Trong khi hai người ở đó, thì Ma-ri đến ngày sinh.
6 hiyen hina Bethlehem hima’am, Mary ana toub ana veya na tit.
7 Cô sinh con trai đầu lòng, lấy vải bọc em bé và đặt nằm trong máng ăn súc vật, vì quán trọ không còn chỗ.
7 Naatu toub ana kek orot ain yai, faifuw ta bai e’armetan for hai bay te’aau ana efanamaim i’inuw in, anayabin nanawan bar etei sabuw hirun hibai karam.
8 Đêm ấy, có mấy anh chăn chiên thức canh bầy giữa đồng trống.
8 Nati gugumin bobaituw kaifenayah afa Bethlehem sisibinamaim hima hai bobaituw hikakaifen,
9 Bỗng một thiên sứ của Chúa xuất hiện trước mặt họ. Vinh quang của Chúa chói lòa xung quanh. Các anh chăn chiên hốt hoảng.
9 basit Regah ana tounamatar isah irerereb, naatu Regah ana marakaw tafahimaim kusisiar re biyah etei marakaw hi’itin hai bir ra’at.
10 Thiên sứ liền trấn an, “Đừng sợ. Tôi báo cho các anh một tin mừng, sẽ là niềm vui lớn cho toàn dân.
10 Baise tounamatar iuwih eo, “Men kwanabir! Ayu tur gewasin abai a tur owenamih ana, iti tur gewasin sabuw hinanonowar boro etei hiniyasisir.
11 Hôm nay Đấng Cứu Thế đã được sinh ra trong thành Đa-vít. Ngài là Cứu Chúa.
11 Anayabin iti boun gugumin David ana bar meraramaim, kwa a baiyawasenayan Regah Keriso i tufuw.
12 Đây là dấu hiệu để các anh nhận ra Ngài: Các anh sẽ gặp một hài nhi bọc bằng vải, nằm trong máng ăn súc vật.”
12 Naatu ana i’inan, i boro iti na’atube kwana’itin, kwananan kek boro faifuw boubunamaim hisum bobaituw hai bay te’aa ana efanamaim hi’inuw inu’in kwana’itin.”
13 Rồi một đoàn thiên sứ rất đông từ thiên đàng nhập cùng với vị thiên sứ đầu tiên, ca vang lời chúc tụng Thượng Đế:
13 Iti na’at eo marta’imon, maramaim tounamatar hai kou’ay gagamin na’in hitit, ana merar hiyi hibora’ara’ah hio,
14 “Vinh danh Thánh Chúa trên trời,
14 “Marakaw bonamanamarin etei God auyomtoro’ot
15 Sau khi các thiên sứ trở về thiên đàng, mấy anh chăn chiên bảo nhau, “Chúng ta hãy đi đến Bết-lê-hem để xem sự việc mà Chúa đã báo cho chúng ta.”
15 Tounamatar himatabir maiye hin mar wanawanan hirur ufunamaim, bobaituw kaifenayah himisir hio, “It boro tanan Bethlehem tanatit, sawar abisa himatar Regah eo tanonowar i tana’itah.”
16 Nên họ vội vàng ra đi tìm gặp được Ma-ri, Giô-xép và hài nhi mới sinh đang nằm trong máng ăn súc vật.
16 Basit matah kabiy himisir hin Mary Joseph hairi hinuwihih hinan hitita’urih, naatu kek bobaituw hai bay te’aa hai efanamaim hi’inuw inu’in hi’itin.
17 Khi thấy hài nhi họ liền thuật lại lời thiên sứ nói về hài nhi ấy.
17 Bobaituw kaifenayah kek hi’i’itin ufunamaim, kek isan tounamatar mi’itube hio hinonowar hai tur hi’owen.
18 Ai nấy đều kinh ngạc về lời của các anh chăn chiên.
18 Sabuw iyabowat nati’imaim hima’am bobaituw kaifenayah iti kek isan hio hinonowar hifofofor men kafaita.
19 Nhưng Ma-ri ấp ủ và suy nghĩ những lời ấy trong lòng.
19 Baise Mary iti tur nonowar i dogoronamaim ya hima inotanot.
20 Các anh chăn chiên trở về, ca ngợi và cảm tạ Thượng Đế về những gì họ đã nghe và thấy như lời thiên sứ đã bảo họ.
20 Bobaituw kaifenayah himatabir hinan efamaim, abisa tounamatar hio hinonowar na’atube hi’i’itin isan, God ana merar hiyi hibora’ara’ah auman hin.
21 Tám ngày sau khi sinh ra, hài nhi được cắt dương bì và đặt tên là Giê-xu, tức là tên mà thiên sứ đã đặt cho trước khi Ma-ri mang thai.
21 Fur ta’imon sasawar ufunamaim, Kek hibai hina ana ar kanabin hi’afuw, wabin Jesu hiwab. Wabin marasika Mary yan matara’e ma’am ana veya, tounamatar na eo na’atube.
22 Khi đến kỳ Ma-ri và Giô-xép phải thi hành những điều đã qui định theo luật Mô-se về lễ tẩy sạch, hai ông bà đem hài nhi Giê-xu lên Giê-ru-sa-lem để dâng cho Chúa.
22 Kousouwih isan Moses ana ofafaramaim bi’obaiyih na’atube, ana veya na tit hibisawar ufunamaim, Mary Joseph hairi Jesu hibai hina Jerusalem hitit, Tafaror Bar hirun Regah ana siwaramih hitin.
23 Vì luật pháp Chúa có ghi: “Mọi con trai đầu lòng phải được dâng cho Chúa.”
23 Anayabin Regah ana ofafaramaim eo na’atube, “Kek orot ain i kwanaya’asair Regah kwanitin.”
24 Ma-ri và Giô-xép cũng mang theo một của lễ để dâng theo luật Chúa viết: “Các ngươi phải dâng hai con chim cu hoặc hai con bồ câu con.”
24 Naatu Regah ana ofafaramaim eo na’atube sibor ya’inamih auman hin, mamu imak rou’ab naatu ma’ufor rou’ab hibow auman hina hitit.
25 Ở Giê-ru-sa-lem có một người tên Xi-mê-ôn. Ông là một người đạo đức và thánh thiện. Ông chờ đợi lúc Thượng Đế cất sự đau khổ khỏi dân Ít-ra-en. Ông là người có Thánh Linh ngự.
25 nati ana veya’amaim, regah ta wabin Simeon i Jerusalem ma’am, iti regah ana yawas i mutufurin naatu yoyoban wairafin. God Anunin tar gabuw ana ofafar eo na’atube ma bow God ana sabuw Israel baiyawasih isan eomatanih i ma kakaif.
26 Xi-mê-ôn được Thánh Linh cho biết là ông sẽ không chết trước khi gặp Đấng Cứu Thế mà Chúa đã hứa.
26 Anun Kakafiyin God ana buriburih isan irerereb eo, “O boro yawas inama’am Regah God ana Roubininenayan natufuw ina’itin imaibo inamorob.”
27 Thánh Linh hướng dẫn Xi-mê-ôn lên đền thờ đúng lúc Ma-ri và Giô-xép mang hài nhi Giê-xu đến để thi hành những điều mà luật pháp qui định.
27 Nati ana veya’amaim Jesu hinah tamah hibai hina hirun, hai binanakwaramaim ofafar eo na’atube sinaf isan. Naatu God Anun Kakafiyin auman Simeon bonawiy na Tafaror Bar run.
28 Xi-mê-ôn bế em bé trong tay và cảm tạ Thượng Đế như sau:
28 Simeon kek bai irurubun hiyaf God ana merar yi eo,
29 “Lạy Chúa, bây giờ xin cho kẻ tôi tớ Chúa qua đời bình an
29 “Regah i’o na’atube a’omatanen ikaif,
30 Vì mắt con đã thấy hài nhi mà Ngài đã chuẩn bị để cứu chúng con,
30 Taiyuwu matau’umaim a baiyawasenayan tafaramamaim ibiyafar aitin.
31 mọi dân tộc sẽ thấy điều ấy.
31 Iti baiyawasenayan i ibogaigiwas sabuw etei matahimaim kubitih boro hina’itin.
32 Ngài là ánh sáng soi đường cho các dân không phải Do-thái
32 Naatu yawas ana marakaw boro nab natit Ufun Sabuw isah nirerereb hina’itin, naatu Israel sabuw nahimaim o ayawas ana marakaw boro nama.”
33 Cha và mẹ của Chúa Giê-xu rất ngạc nhiên về điều Xi-mê-ôn nói về em bé.
33 Kek hinah tamah Simeon kek isan abisa eo hinonowar i hifofofor men kafaita.
34 Rồi Xi-mê-ôn chúc phước cho gia đình và bảo Ma-ri, “Thượng Đế đã chọn em nầy để gây vấp ngã và giục giã cho nhiều người trong Ít-ra-en. Em nầy sẽ là một dấu hiệu từ Thượng Đế, mà nhiều người không chấp nhận,
34 Simeon baigegewasin itih sawar, basit kek hinah Mary isan eo “Iti kek i God rubin sabuw moumurih na’in Israel wanawanan boro nagurusih naatu moumurih na’in boro niyawasih. Hai kirikirifot etei boro niwa’an hinirerereb, ina’i’inan nati isan sabuw boro ana tur hinakwahir.
35 để cho ý tưởng của nhiều người được phơi bày ra. Còn những gì xảy ra sẽ làm cho chị rất đau lòng.”
35 Naatu yababan o dogor wanawanan boro ahay na’atube nay.”
36 Có một nữ tiên tri tên An-na, xuất thân từ gia đình Pha-nu-ên, thuộc chi tộc A-se. An-na đã cao tuổi lắm. Sau khi lập gia đình, bà sống với chồng được bảy năm
36 Nati’imaim dinab babine ta Asher ana bigane ma’am, wabin Anna Fanuel natun, Anna tabin kwamur etei seven ma naatu aawan morob.
37 rồi ở góa, đến nay đã tám mươi bốn tuổi. An-na không khi nào ra khỏi đền thờ nhưng bà trung tín thờ phụng Thượng Đế, cữ ăn và cầu nguyện ngày và đêm.
37 Kwamur etei 84 i kwafur ma naatu Tafaror Bar men kafa’imo ihamiy. Fai mar i yohar, ma yoyoban God bobora’ara’ah.
38 Lúc Xi-mê-ôn nói, bà cũng đang đứng đó. Bà cảm tạ Thượng Đế và thuật về hài nhi Giê-xu cho những người trông chờ Thượng Đế giải phóng Giê-ru-sa-lem.
38 Nati ana veya’amaim babine na run God ana merar yi. Jerusalem wanawanan sabuw iyab baiyawasenayan isan hima hikakaif hai tur eowen eo, “Roubininenayan natit.”
39 Sau khi Giô-xép và Ma-ri thi hành xong những điều luật pháp Chúa qui định, thì trở về quê nhà ở Na-xa-rét thuộc miền Ga-li-lê.
39 Joseph, Mary hairi Regah ana ofafaramaim abisa eo na’atube hisisinaf ufunamaim, himatabir maiye hin hai bar merar wabin Nazareth imaim hitit, tafaram Galilee wanawananamaim.
40 Cậu bé dần dần khôn lớn và mạnh mẽ, ân phúc của Thượng Đế ở cùng cậu.
40 Naatu God ana bosiyasiyar wanawananamaim Kek ra’at yen ana fair bai fudirin rerekab naatu ana not ra’at taseseb.
41 Mỗi năm cha mẹ Chúa Giê-xu lên thành Giê-ru-sa-lem để dự lễ Vượt qua.
41 Kwamur ta ta wanawanahimaim Jesu hinah tamah mar etei Tar Nowaten Hiyuw isan au Jerusalem tenan.
42 Lúc Ngài được mười hai tuổi thì cả gia đình lên dự lễ như vẫn thường làm.
42 Ana veya ta Jesu ana kwamur 12 na’atube basit hiyen hin hiyuw ta isan hai binanakwar eo na’atube.
43 Sau các ngày lễ thì gia đình lên đường trở về nhà. Nhưng cậu Giê-xu ở nán lại Giê-ru-sa-lem mà cha mẹ cậu không hay biết.
43 Hiyuw ufunamaim hai ubar himatabir maiye, baise kek Jesu i Jerusalem ma. Hinah tamah men kafa’imo hiso’ob.
44 Hai người đi suốt một ngày đường, cứ yên trí cậu đi về chung với đồng bạn. Sau đó mới bắt đầu hỏi thăm tìm cậu trong đám thân nhân và bạn hữu.
44 Hinotanot kek i nati sabuw wanawanamaim bairi hinan hirouw, imih nati veya ta’imon i nuhih fot hiremor hin, baise veya re birabirab, hibusuruf kek hinuwih, hai ofonah naatu taituwah hibabatiyih hinunuwet,
45 Tìm không ra nên hai người liền đi trở lại Giê-ru-sa-lem để kiếm.
45 men hitita’ur, basit himatabir maiye hin Jerusalem hitit hinuwih.
46 Mãi ba ngày sau, họ mới tìm được cậu đang ngồi trong đền thờ chung với các giáo sư luật, vừa nghe vừa hỏi.
46 Veya baitounin Tafaror Bar wanawanan Ofafar Bai’obaiyenayah wanawanah mare tur hi’o nowar ma bibabatiyih hitita’ur.
47 Ai nghe cậu cũng lấy làm ngạc nhiên về trí thông minh và những câu trả lời của cậu.
47 Sabuw etei Jesu tur buriburih eo, naatu iyafutih hinonowar isan, hifofofor men kafaita.
48 Lúc cha mẹ tìm được cậu thì cả hai người đều sửng sốt. Mẹ cậu hỏi, “Con ơi, sao con đối với cha mẹ như thế nầy? Cha mẹ hết sức lo âu cho con và đã kiếm con khắp nơi!”
48 Hinah tamah kek hitita’ur ana veya hiororsa’irih Mary Natun iu, “Aro aisim iti na’atube isinaf? Tamat airi ai yababan ra’at, o anuwihi men kikimin ta.”
49 Cậu Giê-xu thưa, “Cha mẹ kiếm con làm gì? Cha mẹ không biết con phải ở trong nhà của Cha con sao?”
49 Iyafutih eo, “Aisim ayu kwanunuwuhu? Kwa men kwaso’ob ayu i Tamai ana baremaim ama’am?”
50 Nhưng cả hai người đều không hiểu cậu nói gì.
50 Baise Kek abisa eo hinah tamah ana tur naniyan men hibai.
51 Chúa Giê-xu trở về Na-xa-rét và vâng phục cha mẹ. Còn mẹ Ngài ghi nhớ vào lòng những chuyện đã xảy ra.
51 Basit Jesu misir bairi himatabir maiye hire hin Nazareth hitit, imaim hinah tamah fanah bosiyasiyar bairi hima naatu hinah iti sawar etei ana notamaim ya ma inotanot.
52 Chúa Giê-xu càng trở nên khôn lớn. Mọi người và Thượng Đế đều quí mến cậu.
52 Jesu ra’at yen orot matar ana not auman ra’at yen God itin yan sisir na’atube sabuw auman.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 2, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.