Lucas 24
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Sáng sớm tinh sương của ngày đầu tuần lễ, các bà đi đến mộ mang theo thuốc thơm đã chuẩn bị sẵn.
1 Sunday maraumanika baibin raiy hibogaigiwas hi’inu’in hibow hin rah yan hitit.
2 Họ thấy tảng đá chận cửa mộ đã được lăn đi rồi,
2 Naatu hin rah yan hitit ana veya kabay gagamin Jesu ana hub awan hiya’afut inu’in hifururuw tit hub awan asir inu’in hi’itin.
3 nhưng khi bước vào thì không thấy xác Chúa Giê-xu đâu cả.
3 Basit wanawanan hirun hin, baise Regah Jesu biyan men hitita’urimih.
4 Trong khi họ đang phân vân không hiểu đầu đuôi ra sao thì bỗng có hai thanh niên mặc áo sáng chóa hiện ra đứng cạnh họ.
4 Nati’imaim hai kasiy ra’at hibat hibinubunibun naniyan meyemeye orot rou’ab hai bonamanamarin auman sisibihimaim himatar hibat.
5 Các bà hốt hoảng và cúi mặt xuống đất. Các người đó hỏi, “Tại sao các chị đi tìm người sống nơi chỗ người chết?
5 Baibin hai bir ra’at nahimaim yumatah au babe me yan hire, baise orot rou’ab hi’uwih hio, “Kwa aisim orot yawasin isan sabuw murubin hai efanamaim kwanunuwih?
6 Ngài không có đây đâu. Ngài từ kẻ chết sống lại rồi. Các chị có nhớ lời Ngài nói trong khi còn ở Ga-li-lê không?”
6 Iti’imaim boro men kwana’itin, i morobone misir maiye! Galilee imaim bairi kwama’am ana veya tur abisa eo i kwanotanot.
7 Ngài nói rằng Con Người phải bị giao cho kẻ có tội, bị đóng đinh rồi đến ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại.
7 ‘Orot Natun i boro hinab sabuw kakafih umahimaim hinayai, hina’onaf, naatu veya tounu ufunamaim morobone nayawas maiye.’”
8 Họ liền sực nhớ lời Ngài đã nói.
8 Imaibo baibin ana tur eo nuhih taseb hinot.
9 Các bà rời khỏi mộ và thuật chuyện ấy cho mười một sứ đồ cùng các môn đệ khác.
9 Naatu rahane himatabir maiye hina bar hitit. Sawar abisa’awat hi’i’itah ana bai’ufununayah nah 11 naatu bai’ufununayah afa nati baremaim hima’am auman hai tur hi’owen.
10 Các bà ấy là Ma-ri Ma-đơ-len, Giô-a-na, Ma-ri mẹ của Gia-cơ, và một vài người đàn bà khác thuật lại cho các sứ đồ nghe chuyện đã xảy ra ở mộ.
10 Baibin iyabowat sawar hi’itah hina Jesu ana tur abarayah hai tur hio’owen wabih i Mary Magdalin, Joanna naatu Mary, James hinah naatu baibin afa auman.
11 Nhưng họ không tin các bà ấy vì có vẻ vô lý quá.
11 Baise Jesu ana tur abarayah baibin hio men hitumatum, anayabin hai tur hinonowar naniyan i tamim tao kwanekwan na’atube.
12 Tuy nhiên Phia-rơ đứng dậy chạy tới mộ. Ông cúi xuống nhìn vào thì chỉ thấy vải liệm xác Chúa Giê-xu mà thôi. Phia-rơ về nhà lấy làm kỳ lạ cho chuyện xảy ra.
12 Baise Peter misir nunuw in rah yan tit, hub wanawanan kwaf nuwariy faifuwawat hi’inu’in itah, basit abisa mamatar isan erebainotanot auman matabir in.
13 Cùng ngày ấy, có hai môn đệ Chúa Giê-xu đang đi đến làng Em-ma-út cách Giê-ru-sa-lem khoảng mười hai cây số.
13 Nati veya ta’imon Jesu ana bai’ufununayah orot rou’ab Jerusalemane hin bar merar ta wabin Emmaus imaim hitit. Jerusalem in Emmaus titit ana fofonin i 11 kilometres na’atube.
14 Họ nói chuyện với nhau về những chuyện mới xảy ra.
14 Baise iti orot rou’ab efamaim sawar abisa’awat himamatar isah hairi hio hidudur hinan ana veya,
15 Trong khi đang thảo luận thì Chúa Giê-xu hiện đến cùng đi đường với họ,
15 Jesu ufuhine natit botanih bairi hita’imon hiremor hin.
16 Nhưng mắt họ bị che khuất không nhận ra Ngài.
16 Naatu bairi hinan i hi’itin baise men kafa’imo hi’inan.
17 Ngài hỏi, “Lúc đi đường hai anh đang thảo luận về chuyện gì thế?”
17 Jesu ibatiyih, “Kwa abisa isan tura airi kwaidudur auman kwanan?” Naatu orot rou’ab hinutanub yah rererey yen hibat.
18 Một người tên Cơ-lê-ô-ba trả lời, “Chắc chỉ có một mình ông là khách mới đến Giê-ru-sa-lem nên mới không biết những chuyện gì xảy ra mấy hôm nay.”
18 Orot ta wabin Cleopas ibatiy eo, “Jerusalem wanawanan o akisimo nanawan orot, imih sawar abisa fai fur wanawanan mamatar o men iso’obamih?”
19 Chúa Giê-xu hỏi, “Chuyện gì?”
19 Jesu ibatiyih, “Sawar abistan?”
20 Thế mà các nhà lãnh đạo và các giới trưởng tế của chúng ta giao Ngài để kết án tử hình, rồi họ đóng đinh Ngài.
20 Baise aki ai firis ukwarih naatu bonawiyenayah orot ukwarih hibai Roman gawan hitin, morobomih eo ibasit naatu hibai hin hi’onaf morob.
21 Chúng tôi vẫn tưởng Ngài sẽ giải phóng quốc gia Ít-ra-en. Dù sao, chuyện xảy ra được ba hôm rồi.
21 Aki anotanot iti orot boro Israel sabuw baiyawasih arouw nuhifot ama’am, baise iti orot hirab momorob i veya boun tounu sawar.
22 Còn hôm nay có mấy người đàn bà trong chúng tôi làm chúng tôi sửng sốt. Sáng sớm hôm nay họ đến viếng mộ,
22 Naatu baibin afa aki ai kou’ayomaim boun maraumanika hin rah yan hititit biyan hiboyouw
23 nhưng không thấy xác Ngài đâu. Họ trở về bảo là họ thấy có mấy thiên sứ hiện ra nói rằng Chúa Giê-xu đang sống!
23 naatu himatabir hina hio, ‘Aki tounamatar ai’itih, naatu tounamatar ai tur hi’owen Jesu i morobone misir maiye.’ Iti na’at hio aki aoror sa’iri ai kasiy ra’at.
24 Cho nên có vài người trong chúng tôi đến mộ. Họ cũng thấy giống như mấy người đàn bà nói, nhưng không thấy Chúa Giê-xu đâu cả.”
24 Basit ai kou’ayomaim sabuw afa hin rah yan hit abisa baibin hio hinowar na’atube hi’itah, baise Jesu men hi’itinimih.”
25 Chúa Giê-xu liền bảo họ, “Sao mấy anh quá tối dạ và chậm tin lời các nhà tiên tri nói như thế?
25 Imaibo Jesu iuwih eo, “Kwa i kwabikoko’aw, aisim dinab oro’orot abisa hio hikikirum men fudir rerekab kwabitumatumamih!
26 Các nhà tiên tri đã nói rằng Chúa Cứu Thế phải chịu khổ hình trước khi bước vào vinh hiển của Ngài.”
26 Keriso iti sawar etei isah ni’akir biyan nababan saise ana aiwob maramaim narun nabi’aiwob isan men kwaso’ob?”
27 Rồi bắt đầu từ Mô-se và các nhà tiên tri, Chúa Giê-xu giải thích cho họ biết những điều Thánh Kinh đã viết về Ngài.
27 Imaibo Jesu taiyuwin isan aneika Moses ana Buk kikirum imaim busuruf idudur rena God ana dinab oro’orot hai Buk hikikirum imaim tit.
28 Lúc gần đến Em-ma-út, Chúa Giê-xu có vẻ muốn đi thêm nữa
28 Naatu bar merar hinuh hinanamaim hititit auman, Jesu bar merar ta namihibe iwa’an hi’itin.
29 nhưng họ nài ép Ngài, “Xin mời ông ở lại với chúng tôi vì trời tối rồi.” Vì thế Ngài vào ở lại với họ.
29 Baise hi’otan hio, “Veya sawar naatu mar efof imih tarun bairit ta’in.” Iti na’at hio itin, basit bairi inumih hirun.
30 Trong khi đang ngồi ở bàn, Ngài cầm bánh, tạ ơn rồi bẻ ra trao cho họ.
30 Bay aa isan Jesu bairi himare, eof rafiy bai God ana merar yi sawar imasib itih.
31 Lúc ấy mắt họ mới được mở ra và nhận biết Ngài nhưng Ngài vụt biến đi.
31 Imaibo hairi matah to iwa’an hi’inan, baise marta’imon na’am sa’iwa’an.
32 Họ bảo nhau, “Khi đi đường Ngài nói chuyện và giải thích Thánh Kinh cho chúng ta, lòng chúng ta không nóng sốt sao?”
32 Hairi himisir hio, “Efamaim tanan Buk Atamaninamaim bidudur dogorot ahayabe yiy naniyan itatam?”
33 Họ lập tức đứng dậy đi trở lại Giê-ru-sa-lem. Đến nơi họ gặp mười một môn đệ và những người khác đang nhóm họp.
33 Basit himisir himatabir maiye hin Jerusalem hitit, nati’imaim bai’ufununayah nah 11 naatu afa auman hiru’ay hima’am hi’itih,
34 Họ bảo, “Chúa quả đã sống lại và hiện ra với Xi-môn.”
34 hai tur hi’owen hio, “Tur anababatun Regah i morobone misir maiye Simon isan irerereb.
35 Rồi hai người thuật lại chuyện xảy ra trên đường và nhận ra Ngài khi Ngài bẻ bánh ra sao.
35 Orot rou’ab efamaim abisa mamatar naatu mi’itube rafiy imasib bitih ana veya’amaim matah to iwa’an hi’i’inan etei hidudur turahinah hinowar.
36 Trong khi hai môn đệ còn đang thuật chuyện thì Chúa Giê-xu hiện ra đứng giữa họ và nói, “Bình an cho các con.”
36 Orot rou’ab iti na’atube hima hio hinonowar auman naniyan meyemeye Regah nah yan foun matar bat iuwih eo, “Tufuw isa nama.”
37 Mọi người hốt hoảng rụng rời vì tưởng thấy ma.
37 Etei hi’oror, hai bir ra’at, hinotanot i yoyom mowan itinin hirouw.
38 Nhưng Chúa Giê-xu bảo, “Sao các con hoảng hốt? Tại sao các con ngờ vực trong lòng?
38 Baise Jesu iuwih eo, “Aisim kwabirubir naatu aisim a not boro’ika tekakasiy?
39 Hãy nhìn tay và chân ta. Chính thật là ta! Các con hãy rờ ta đi vì ma chẳng có xương thịt mà các con thấy ta có.”
39 Au umau kwa’itah, naatu biyau kwabutubun finimu au rakit naniyan kwatatam, saise kwanaso’ob iti i anababatun ayu, anayabin yoyom i aurih finimih en.”
40 Sau khi nói xong, Ngài giơ tay và chân cho họ xem.
40 Iti ra’at eo sawar basit an uman i’obaiyih hi’itan.
41 Trong khi họ đang nửa tin nửa ngờ, vì vừa kinh ngạc vừa vui mừng, thì Chúa Giê-xu hỏi họ, “Ở đây các con có gì ăn không?”
41 Baise men kafa’imo hitumatumamih, hai kawasa ra’at hikasiy auman, basit Jesu ibatiyih, “Kwa bay urey ta kwayai inu’in?”
42 Họ dâng cho Ngài một miếng cá nướng.
42 Siy baibitab finimin reban hibai hitin
43 Trong khi các môn đệ đang nhìn, thì Chúa Giê-xu cầm lấy cá và ăn trước mặt họ.
43 naatu nahimaim bat eaan hi’itin.
44 Ngài bảo, “Các con còn nhớ lúc ta ở với các con không? Ta đã nói rằng những gì được viết về ta phải xảy ra—tất cả những gì trong luật pháp Mô-se, các sách tiên tri và các Thi thiên.”
44 Imaibo hai tur eowen eo, “Ayu i sawar iti isah bairit tama’ama ana veya a tur aowen. Sawar abisa ayu isau mataramih Moses ana Bukamaim, dinab hai Bukamaim na’atube Psalms imaim hio hikikirum hina hiturobe.”
45 Rồi Ngài mở trí họ ra để họ hiểu lời Thánh Kinh.
45 Imaibo hai not botawiy Buk Atamaninamaim abisa isan hio hikikirum naniyan hibai.
46 Ngài nói với họ, “Thánh Kinh viết rằng Chúa Cứu Thế phải chịu khổ hình và ngày thứ ba sẽ sống lại từ trong vòng kẻ chết
46 Naatu iuwih eo, “Abisa hio hikikirum anayabin i iti, Keriso i ni’akir biyan nababan namorob, naatu veya tounu ufunamaim boro nayawas maiye namisir.
47 và rằng người ta sẽ nhân danh Ngài giảng cho mọi dân tộc về sự ăn năn để được tha tội, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem.
47 Saise i wabinamaim ya baikitabir naatu notawiyen ana tur Jerusalemamaim an hinayai hinabinan hinatit hinan tafaram tutufin etei hinanowar.
48 Các con là nhân chứng cho những việc ấy.
48 Imih kwa abisa matamaim kwa’i’itin i kwanakubuna sabuw etei hai tur kwana’owen hinanowar.
49 Ta sẽ cho các con điều Cha đã hứa, nhưng các con hãy đợi trong thành Giê-ru-sa-lem cho đến khi nhận được quyền năng từ thiên đàng.”
49 Jerusalemamaim kwanama ayu Tamai abisa baitimih eo’omatani marane aniyafar nare a fair kwanab.”
50 Chúa Giê-xu dắt các môn đệ ra đến làng Bê-tha-ni. Ngài giơ tay chúc phước cho họ.
50 Imaibo nawiyih bairi Jerusalem hihamiy hitit hin Bethany hitit, nati’imaim uman bora’ah isah yoyoban igegewasinih.
51 Trong khi đang chúc phước, Ngài rời họ và được tiếp về thiên đàng.
51 Bigegewasinih auman ihamiyih earura’ah yen in mar wanawanan run.
52 Họ thờ lạy Ngài và hớn hở trở về Giê-ru-sa-lem.
52 Hibora’ara’ah yasisir yah awan karatan auman himatabir maiye hin Jerusalem hitit.
53 Các môn đệ ở luôn trong đền thờ và ca ngợi Thượng Đế.
53 Nati’imaim mar etei hin Tafaror Baremaim God ana merar hiyiy naatu hibobora’ara’ah.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 24, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.