Lucas 21

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Chúa Giê-xu ngước lên thấy mấy người giàu bỏ tiền vào hộp dâng hiến trong đền thờ.
1 Jesu Tafaror Bar wanawanan siwar ya’aya ana efamaim mare ma sabuw kabay wairafih hina hai siwar tew wanawanan hibiwanen itih.
2 Sau đó, Ngài cũng thấy một người đàn bà góa nghèo bỏ hai đồng tiền nhỏ vào hộp.
2 Naatu kwafur babin yababan wairafin auman na ana kabay gidigidih rou’ab tew wanawanan biwan itin.
3 Ngài nói, “Ta bảo thật với các con, bà góa nghèo nầy đã dâng nhiều hơn tất cả các người giàu kia.
3 Naatu sabuw iuwih eo, “Anababatun a tur ao’owen, iti kwafur babin, yababan wairafin ana siwar God bitin i sabuw etei natabirih.
4 Vì họ chỉ dâng phần dư thừa. Còn bà góa nầy tuy nghèo lắm, nhưng đã dâng hết tất cả của mình có để nuôi thân.”
4 Anayabin sabuw afa i totobuyoy wairafih, imih hai siwar gagamin na’in hiyai, baise iti kwafur babin ana efanamaim abisa i isan yai inu’in i etei bai na ana siwar yai.”
5 Có mấy người nói chuyện về đền thờ. Họ trầm trồ về những khối đá đẹp tô điểm trong đền thờ cùng những của lễ mà người ta dâng. Nhưng Chúa Giê-xu bảo,
5 Jesu ana bai’ufununayah afa Tafaror Bar hiwowowab ana gewasin hi’itin, naatu kabay hitar hikikirum isan, na’atube siwar ta ta God isan hiyasairen bar hibi’abur hi’itah isan hio hibifofofor. Baise Jesu eo,
6 “Những gì đẹp mà các con thấy hôm nay rồi sẽ đến lúc mà không có hai khối đá nào nằm chồng lên nhau nữa. Tất cả đều sẽ đổ nhào xuống hết.”
6 “Sawar iti etei kwa’itih kwa’o, mar boro kabay iti etei boro nihururuw nare narubar na’in, boro men ta iti hai efanamaim hina’inumih.”
7 Họ hỏi Chúa Giê-xu, “Thưa thầy bao giờ thì các biến cố ấy xảy đến? Có dấu hiệu gì cho thấy nó sắp xảy ra không?”
7 Sabuw Jesu hibatiy hio, “Bai’obaiyenayan, mar i boro biy iti sawar hinamatar, naatu ina’inan i boro abisa namatar saise aki ana’itin ana so’ob veya i na tit?”
8 Chúa Giê-xu đáp, “Hãy thận trọng, đừng để bị lừa. Nhiều người sẽ mạo danh ta đến và tự xưng, ‘Ta là Đấng ấy’ hoặc ‘Thời đã điểm!’ Nhưng các con đừng theo họ.
8 Jesu iuwih eo, “Mata toniwa’an, men koko’aw na’atube hinifufuwimih. Anayabin orot moumurih na’in boro ayu wabu’umaim hinao, ‘Ayu i Keriso, naatu Veya i na kabom.’ Men kwani’ufnunih.
9 Khi các con nghe tiếng đồn về giặc giã và loạn lạc thì đừng sợ, vì những biến cố ấy sẽ đến trước rồi sau mới tận thế.”
9 Hinabiyow tur kwananonowar men kwanabir, naatu yababan nara’at ef hinafofokar auman men kwanabir, anayabin sawar nati na’atube boro wan hinamatar, baise men kwananot mar yomanin i na kabom.”
10 Rồi Ngài bảo họ, “Dân nầy sẽ đánh dân kia, nước nầy chống nước nọ.
10 Naatu iban iuwih maiye eo, “Tafaram ta ta boro taiyuwih hinagam hiniyow na’atube bar merar ta ta boro taiyuwih hinagam hiniyow.
11 Nhiều nơi sẽ có động đất lớn, dịch hạch và đói kém. Có nhiều biến cố đáng sợ và những dấu lạ từ trời xuống.
11 Iriyoy gagamih boro hinamatar, baimar kakafin, sawow yumatah ta ta tafaram wanawanan boro awan nakaratan, maramaim sawar itah birubir boro hinamatar.
12 Nhưng trước khi những biến cố ấy xảy ra, người ta sẽ bắt và ngược đãi các con. Họ sẽ xét xử các con trong các hội đường, tống giam các con và bắt các con đứng trước mặt các vua, các quan tổng trấn chỉ vì các con làm môn đệ ta.
12 Wabu’umaim kwabowabow isan, hinarab hini’a’akir, hinabuw hinafatumi kwanan Kou’ay Bar hai ukwarih umahimaim hinayai, naatu i boro hinabuw kwanan dibur hinayariyi, tafaram ana aiwob na’atube orot gagamih nahimaim kwanatit hinibabatiy.
13 Nhưng việc ấy sẽ tạo cơ hội tốt cho các con làm chứng về ta.
13 Imih nati’imaim kwanatitit, veya keboroban i nati, ayu mi’itube kwaitutumu kwabowabow i hai tur kwana’owen.
14 Các con đừng lo âu là không biết sẽ nói gì.
14 Naatu baibatiyimih hinabuw kwananan men bogaigiwas taiyuw was fafari isan kwananot kwaniyababanamih.
15 Ta sẽ cho các con sự khôn ngoan để nói những điều mà kẻ thù không bẻ bác được.
15 Anayabin ayu boro tur anit a not hinarerekab tur kwanao a kamabiy sabuw hinanonowar boro men karam a tur hinarukouw naatu bairi kwanibasamih.
16 Đến nỗi cha mẹ, anh em, thân nhân và bạn hữu cũng sẽ nghịch lại các con, họ cũng sẽ giết một vài người trong các con.
16 Hinat, tamat, taituwa, a ofonah boro baba hinao, hinabuw orot gagamih umahimaim hinaya’i, baimakiy hinit naatu kwa afa boro hina’asbuni kwanamorob.
17 Mọi người sẽ ghét các con vì các con theo ta.
17 Sabuw etei boro hinifa’ifai, anayabin ayu kwabi’ufnunu isan.
18 Nhưng không có gì làm hại các con được.
18 Baise ukwarimaim arib ta boro men nakasiyomih.
19 Các con sẽ cứu được mạng sống mình bằng cách giữ vững lòng tin.
19 Naatu kwa a batkikinamaim yawas boro kwanatita’ur kwanab kwanama gewas.
20 Khi các con thấy quân lính vây hãm thành Giê-ru-sa-lem, thì phải biết rằng nó sắp bị tiêu hủy.
20 Baiyowayah sabuw Jerusalem hina’ar bebera’uh kwana’i’itin kwa i kwanaso’ob, Jerusalem rabin baitaiyin isan ana veya i kabom.
21 Lúc ấy, ai ở miền Giu-đia hãy chạy trốn lên núi. Ai ở trong thành Giê-ru-sa-lem hãy chạy thoát ra, và ai ở gần thành ấy thì chớ nên vào thành.
21 Sabuw iyab Judea wanawanan tema’am boro hinabihir hinan oyaw wan hinayen, sabuw iyab Jerusalem tema’am boro tafaram hinihamiy, sabuw iyab bar meraramaim tema’am boro men hinan Jerusalem hinatit.
22 Đó là những ngày trừng phạt theo Thánh Kinh đã viết.
22 Anayabin nati i baimakiy ana veya, saise abisa bukamaim hikirum inu’in nan niturobe.
23 Khốn khổ nhất là đàn bà đang mang thai và có con còn bú! Tai họa sẽ đến trên đất vì Thượng Đế nổi giận cùng dân nầy.
23 Nati ana veya’amaim baibin iyab yah auman naatu hai kek sosof auman bihir isan boro nafokar, yababan gagamin na’in boro iti tafaramamaim namatar naatu sabuw boro baimakiy hinab.
24 Họ sẽ bị gươm giết và sẽ bị bắt làm tù binh rải rác khắp mọi quốc gia. Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại quốc giày xéo cho đến thời kỳ dành cho dân ngoại quốc chấm dứt.
24 Sabuw afa boro ahay wan hinayen hina morob, afa boro hinabow hinan tafaram ta ta’amaim dibur hinaya. Naatu Eteni Sabuw Jerusalem boro hinarab nare tafan hinatet, naatu hinama hinakaif hai veya God bitih na’atube nan niturobe.
25 Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. Trên đất, nhiều quốc gia sẽ kinh khiếp và hoang mang vì tiếng gầm thét và sóng cồn dữ dội của biển cả.
25 “Maramaim veya, sumar, daman boro ina’inan yumatah ta ta hinamatar. Tafaram tutufin wanawan etei boro ayay hinabosair abisa namamatar isan, yabat boro namisir, gis nayen ana’itin boro birubir kakafin.
26 Người ta sẽ khiếp đảm đến nỗi tuyệt vọng, tự hỏi thế giới sẽ đi về đâu vì các thế lực trên trời sẽ rúng động.
26 Sabuw boro hai bir nara’at hinimamayay hinao, ‘Abisa tafaram wanawan emamatar.’ Anayabin maramaim sawar etei ti’inu’in hai efan boro hinasa’iren nanabin hinan.
27 Lúc ấy người ta sẽ thấy Con Người hiện đến giữa mây trời với quyền lực và hiển vinh cao cả.
27 Imaibo Orot Natun sakukuw wanawanan ana fair ana marakaw bonamanamarin auman natit nanan hina’itin.
28 Khi những biến cố ấy bắt đầu, hãy ngẩng đầu lên, vì thời kỳ Thượng Đế giải thoát các con đã đến!”
28 Sawar iti hinabusuruf hinamamatar ana veya’amaim, kwanamisir kwananuw ra’at, anayabin God ana sabuw baiyawasih isan ana veya i na rukabom.”
29 Sau đó Chúa Giê-xu kể câu chuyện nầy: “Các con hãy xem cây vả cùng các loại cây khác.
29 Imaibo Jesu oroubon ta eo, “Ai fafou kwana’itin naatu ai afa auman kwana’itah.
30 Khi lá non trổ ra, thì các con biết mùa hạ gần tới.
30 Hiw ana veya natitit kwa boro kwanao, ai abeb ana veya na, ai rourih hina’abebemih.
31 Cũng thế, khi các con thấy những biến cố ấy xảy ra thì các con biết rằng Nước Trời gần đến rồi.
31 Imih ef i boro nati ta’imon, ana veya’amaim sawar iti na’atube hinamatar kwana’i’itah, kwa boro kwanaso’ob, God ana aiwob namih ana veya i na kabom.
32 Ta cho các con biết là những biến cố ấy sẽ xảy ra trong khi người ở thời đại nầy hãy còn sống.
32 Anababatun a tur ao’owen sabuw iti tema’am boro moroboe hinama’am sawar iti hinamatar.
33 Trời đất sẽ bị tiêu hủy nhưng lời ta nói sẽ không bao giờ bị tiêu hủy đâu.
33 Mar tafaram boro nasawar, baise ayu au tur i boro men nasawaramih.
34 Phải thận trọng, đừng dành thì giờ ăn uống phè phỡn hoặc bận tâm đến những việc đời nầy. Nếu không, ngày ấy sẽ bất chợt xảy đến với các con,
34 Mata toniwa’an, men aa tom namomon, naatu iti tafaram ana yawas isan a yababan nara’at, anayabin veya i boro naniyan meyemeye
35 giống như cái bẫy sập mọi người sống trên đất.
35 warasa na’atube nabuw kwana’oror. Sabuw iti tafaram wanawanan boro etei isah namatar.
36 Cho nên lúc nào cũng phải sẵn sàng. Hãy cầu nguyện cho các con đủ sức thoát khỏi những biến cố đó để các con có thể đứng trước mặt Con Người.”
36 Imih mata toniwa’an mar etei kwanayoyoban, saise fair kwanab sawar iti hinamamatar wanawanahimaim kwanahaiw kwan Orot Natun nanamaim kwanabat.”
37 Ban ngày Chúa Giê-xu dạy dỗ dân chúng trong đền thờ, đêm xuống thì Ngài đi ra ngoài thành phố và ngụ trên núi Ô-liu.
37 Jesu veya etei Tafaror Baremaim na sabuw bi’obaibiyih, baise rabirab en Olive Oyawemaim inu’in.
38 Mỗi sáng, tất cả dân chúng dậy sớm đi vào đền thờ để nghe Ngài dạy.
38 Baise mar etei mar auman sabuw i tena Tafaror Baremaim eo tema tenonowar.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 21, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.