Lucas 18
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Rồi Chúa Giê-xu dùng chuyện sau đây để dạy các môn đệ Ngài phải khẩn nguyện luôn luôn, đừng nản lòng.
1 Jesu bai’obaiyen ta oroubonamaim ana bai’ufununayah i’obaiyih eo, “Mar etei kwanayoyoyoban, men guban nahurir yoyoban kwanihamiyimih.”
2 “Ở tỉnh nọ có một quan tòa không kính sợ Thượng Đế, cũng chẳng nể nang ai.
2 “Veya ta bar merar gagamin ta’amaim tur nowarayan orot ta nati’imaim ma’am, i men kafa’imo God isan birubir naatu orot babin isah birubirumih.
3 Cùng trong tỉnh có một bà goá cứ đến kêu nài ông quan tòa mãi. Chị van xin, ‘Ngài làm ơn phân xử lẽ công bằng cho tôi đối với kẻ thù của tôi.’
3 Nati bar meraramaim i kwafur babin auman ma’am. Nati babin mar etei tur nowarayan orot ifefeyan eo, ‘Ayu akokok inibaisu au kamabiy wairafin airi kwanao ayu ana ma gewas.’
4 Bấy lâu nay, ông quan tòa không chịu giúp đỡ chị. Nhưng sau đó ông thầm nghĩ, ‘Dù rằng ta không kính sợ Thượng Đế cũng chẳng nể nang ai,
4 Veya moumurih maiyow orot iti babin ana fefeyan nonowar men kafa’imo abisa ta sinafumih. Baise yomaninamaim taiyuwin ma binotanot eo, ‘Ayu i men God abibiruw naatu orot babin men akakafiyih.
5 nhưng ta nên xét xử công bằng cho chị nầy. Nếu không chị cứ đến làm phiền ta hoài, mệt quá.’”
5 Baise iti babin i mar etei isau enan, gewasin babin i boro anibais nama gewas, saise men mar etei nan ayu nihaharu’umih.’”
6 Chúa Giê-xu bảo, “Hãy nghe kỹ lời ông quan tòa bất công ấy nói.
6 Naatu Regah Jesu eo, “Tur nowarayan orot kakafin ana tur kwanowar.
7 Thượng Đế lúc nào cũng ban lẽ công bằng cho dân Ngài, là dân ngày đêm cầu xin. Ngài không chậm trễ trong việc đáp lời kêu xin của họ đâu.
7 Naatu kwanotanot God ana roubinen sabuw fai mar isan hinarererey boro men na’itin nibaisih hinama gewas? Naatu baibaisih isan boro nama narubirabir?
8 Ta bảo cho các con biết, Thượng Đế sẽ mau chóng đến giúp dân Ngài. Nhưng khi Con Người trở lại, liệu có tìm được ai trên đất còn tin ở Ngài hay không?”
8 Baise a tur ao’owen, God i boro hai yababan na’itin naatu boro matan nakabiy nasinaf. Baise Orot Natun namatabir maiye nanan ana veya, tafaramamaim boro sabuw baitumatumayah natita’urih.”
9 Chúa Giê-xu kể chuyện nầy cho những người tự cho mình là đạo đức mà khinh dể kẻ khác:
9 Sabuw afa taiyuwih tebora’ahih gewasih terouw, taih tuwah tinunufuruwih isan, Jesu oroubonamaim eo.
10 “Có một người Pha-ri-xi và một người thu thuế cùng lên đền thờ cầu nguyện.
10 “Ana veya ta orot rou’ab hitit hin Tafaror Baremaim yoyoban isan, orot ta i Pharisee, naatu orot ta i kabay o’onayan.
11 Người Pha-ri-xi đứng riêng một mình và cầu nguyện như sau, ‘Lạy Thượng Đế, con tạ ơn Ngài vì con không giống như những người khác: ăn cắp, lường gạt, ngoại tình hoặc như anh thu thuế nầy.
11 Pharisee orot akisin nabin bat yoyoban eo, ‘God a merar ayiy gagamin maiyow, anayabin ayu i men sabuw afa na’atube’emih, ayu men kabat mowan, men baifufuwenayan, men bainowan mowan, men taituwau a’aawah ufuh a nan, naatu ayu i men iti kabay o’onayan na’atube.
12 Con cữ ăn mỗi tuần hai lần, và dâng một phần mười về mọi nguồn lợi tức của con!’
12 Fur ta’imon wanawanan mar rou’ab ayoyohar naatu au kabay abaib roumukur etei o a siwar abit ofafaramaim eo na’atube.’
13 Người thu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời. Anh ta đấm ngực vì quá ân hận. Anh khẩn cầu, ‘Lạy Thượng Đế, xin thương xót con là một tội nhân.’
13 Baise kabay o’onayan akisin babanane bat, uwan yi dogoron rab yoyoban eo, ‘God kwiwanbabanu, ayu bowabow kakafin wairafu.’
14 Ta bảo cho các ngươi biết, anh nầy về được Thượng Đế chấp nhận chứ không phải người Pha-ri-xi đâu. Ai tự đề cao mình sẽ bị hạ thấp còn ai khiêm nhượng sẽ được tôn cao.”
14 A tur ao’owen, orot rou’ab yoyoban ufunamaim au bar hinan kabay o’onayan God matanamaim i roumutufuren bai yasisiramaim ana ubar in, men Pharisee. Anayabin orot yait taiyuwin ebobora’ah God boro nab nayare, baise orot babin yait taiyuwin eyayare God boro nayara’ah orot gagamin namatar.”
15 Có mấy người mang các trẻ em đến cùng Chúa Giê-xu, để Ngài đặt tay trên chúng nó. Nhưng các môn đệ Ngài vậy liền rầy họ.
15 Sabuw afa natunatuh Jesu baigegewasinih isan hibow hina biyan hititit, ana bai’ufununayah hi’itih, sabuw higam hi’uwih.
16 Chúa Giê-xu gọi chúng đến và dạy rằng, “Hãy để các trẻ thơ đến với ta. Đừng ngăn cản vì Nước Trời thuộc về những người có lòng giống như chúng nó.
16 Baise Jesu kek eafih hina biyan hitit naatu eo, “Kek kwaihamiyih tena biyou titit, men kwanao tanihimih, anayabin sabuw iyab dogoroh iti kek gidigidih na’atube God ana aiwobomaim boro hinarun.
17 Ta nói thật, các con phải tiếp nhận Nước Trời như một trẻ thơ, nếu không sẽ chẳng vào đó được đâu.”
17 A tur ao’owen, orot yait nayare iti kek na’atube God ana aiwobomaim boro narun.”
18 Có một lãnh tụ kia hỏi Chúa Giê-xu, “Thưa thầy nhân đức, tôi phải làm gì mới được sống đời đời?”
18 Jew sabuw hai bonawiyenayan orot ta Jesu ibatiy, “Bai’obaiyenayan Gewas, kuo anowar, abisa anasinaf boro yawas ma’ama wanatowan anab.”
19 Chúa Giê-xu trả lời, “Sao anh gọi ta là nhân đức? Chỉ một mình Thượng Đế là nhân đức thôi.
19 Jesu iya’afut eo, “O aisim ayu orot gewasu irouw kuo’o? Men yait ta gewasinamih, baise God akisinamo i gewasin.
20 Anh biết các mệnh lệnh: ‘Ngươi không được ngoại tình. Ngươi không được giết người. Ngươi không được trộm cắp. Ngươi không được đặt điều nói dối về người láng giềng mình. Ngươi phải hiếu kính cha mẹ.’”
20 Ofafar etei Moses ana Bukamaim kikirum iso’ob? ’Taituwa a’aawah ufuh men inan, men sabuw ina’asbunuw, men inabain, men inifufuwen, men inayanuw, naatu hinat tamat fanah inabosiyasiyar.’”
21 Nhà lãnh tụ ấy thưa, “Tôi đã vâng giữ những mệnh lệnh ấy từ khi còn nhỏ.”
21 Orot iya’afut eo, “Ayu kek ana veya’ika abusuruf iti ofafar etei ai’ufnunen, men ta astu’ubimih.”
22 Nghe như thế Chúa Giê-xu bảo, “Anh cần làm một điều nữa. Hãy bán hết của cải anh có, phân phát cho người nghèo thì anh sẽ có của báu trên thiên đàng. Rồi đến theo ta.”
22 Jesu nonowar ufunamaim eo, “Sawar ta’imonamo men isinafumih. Inan sawar etei inabow sabuw hinatobon naatu kabay yababan wairafih inafaramih. Imaibo inan ayu ni’ufnunu, saise maramaim o boro totobuyoy wairaf inamatar.”
23 Nhưng khi nghe xong thì anh đâm ra rầu rĩ vì anh giàu lắm.
23 Baise orot iti tur nonowar ana maramaim ana yababan ra’at, anayabin i totobuyoy wairafin.
24 Chúa Giê-xu nhìn anh bảo rằng, “Thật khó cho người giàu vào Nước Trời.
24 Jesu iti orot biyababan itin basit eo, “Sabuw iyab totobuyoy wairafih maramaim run isan boro isah nafokar.
25 Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn là người giàu vào Nước Trời.”
25 Sinak ana sou awan kikimin camel imaim boro karam nasorabon, baise orot totobuyoy wairafin God ana aiwobomaim run isan boro men karam narun.”
26 Khi quần chúng nghe vậy liền hỏi, “Vậy thì ai được cứu?”
26 Sabuw iti tur hinonowar hio, “Orot yait i boro yawas natita’ur?”
27 Chúa Giê-xu đáp, “Điều gì loài người làm không được, thì Thượng Đế làm được.”
27 Jesu iyafutih eo, “Sabuw isah i fokar, baise God isan i hamehamen maiyow.”
28 Phia-rơ thưa, “Thầy xem, chúng con đã bỏ hết tất cả để theo thầy.”
28 Imaibo Peter, Regah isan eo, “Aki ai bar ai tumar o abi’ufnuni ku’itin.”
29 Chúa Giê-xu bảo, “Ta nói thật với các con, người nào bỏ nhà cửa, vợ con, cha mẹ, anh em vì Nước Trời
29 Jesu iuwih eo, “Anababatun a tur ao’owen, orot yait ana bar, aawan, natunatun, taintuwan, hinah tamah, ihamiyen God ana aiwob isan i’akir ebowabow
30 thì trong đời nầy sẽ nhận nhiều lần hơn và trong cõi tương lai sẽ được sự sống đời đời.”
30 boro sawar moumurih na’in iti tafaramamaim tafan hinaya’abar nabow naatu yawas mar boro enan ma’ama wanatowan boro nab.”
31 Rồi Chúa Giê-xu đem các môn đệ riêng ra và bảo họ, “Chúng ta sẽ đi lên Giê-ru-sa-lem. Những gì các nhà tiên tri viết về Con Người sẽ được thành tựu.
31 Jesu ana tur abarayah nah 12 buwih nabinamaim iuwih eo, “Kwananowar! It i au Jerusalem tayey, naatu nati’imaim dinab oro’orot Orot Natun isan abisa mataramih hio hikikirum boro imaim yabin namatar.
32 Ngài sẽ bị giao vào tay những người ngoại quốc. Họ sẽ chế giễu Ngài, sỉ nhục Ngài, phỉ nhổ Ngài,
32 Nati’imaim i boro hinab Eteni Sabuw umahimaim hinayai, hinab hini’i’iyab, hinigigim, hinakwaitututur, hinawabir naatu hina’asabun namorob.
33 đánh đập Ngài và giết Ngài. Nhưng đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại.”
33 Baise veya tounu ufunamaim boro nayawas maiye namisir.”
34 Các môn đệ chẳng hiểu gì cả, vì ý nghĩa đã bị che khuất khỏi họ, cho nên họ không hiểu lời Ngài nói.
34 Naatu bai’ufununayah Jesu abisa eo men kafa’imo tur naniyan hibai hinotaboun. Anayabin kawen turamaim eo naniyan bain isan fokar.
35 Chúa Giê-xu đang đi gần đến thành Giê-ri-cô, thì có một người mù ngồi xin ăn bên đường.
35 Jesu yena Jericho biyubin auman orot ta matan fim nati ef yanamaim ma fefefeyan.
36 Lúc anh nghe tiếng dân chúng đi lại ồn ào trên đường mới hỏi, “Chuyện gì vậy?”
36 Sabuw hinan fanah nowar, basit ibatiyih, “Abisa matar kwa’i’itin?”
37 Họ đáp, “Giê-xu người Na-xa-rét sắp đi qua.”
37 Sabuw hiya’afut hio, “Jesu Nazareth matuwan enan.”
38 Anh mù vùng kêu lớn, “Giê-xu, Con Đa-vít ơi, xin thương xót tôi!”
38 Basit orot matan fim erererey auman eaf eo, “Jesu David ana’agir kwiwanbabanu.”
39 Mấy người đi đầu đoàn dân la rầy bảo anh im đi. Nhưng anh còn la lớn hơn nữa, “Con Đa-vít ơi, xin thương xót tôi!”
39 Sabuw wan hi’iyon hinan hitatabir orot hikwarar tatab awan fotamih hio. Baise orot matan fim fan sib aumetawat na’in eaf eo, “David ana agir kwiwanbabanu!”
40 Chúa Giê-xu dừng lại bảo người ta dẫn anh mù đến. Khi anh đến, Chúa Giê-xu hỏi,
40 Basit Jesu nutanub bat naatu eo, “Orot kwabai kwana aitin.” Orot hibai hina Jesu biyan hitit, Jesu orot ibatiy.
41 “Anh muốn ta làm gì cho anh đây?”
41 “Abisa kukokok isa anasinaf?” Orot iya’afut eo, “Regah ayu akokok matau nigewasin ana nuw maiye.”
42 Chúa Giê-xu bảo anh ta, “Vậy thì anh hãy sáng mắt. Anh được lành vì anh tin.”
42 Basit Jesu orot iu, “Mata igewasin kunuw, abaitumatumamaim ebiyawasi.”
43 Người mù lập tức thấy đường, đi theo Chúa Giê-xu và cảm tạ Thượng Đế. Mọi người chứng kiến chuyện ấy cũng ca ngợi Thượng Đế.
43 Mar ta’imonamo orot matan igewasin nuw naatu God ana merar yi bora’ara’ah auman Jesu i’ufunun hairi hin. Naatu abisa matar sabuw hi’itin ana maramaim God ana merar hiyi wabin hibora’ara’ah.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 18, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.