Lucas 16

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Chúa Giê-xu dạy các môn đệ, “Có một ông nhà giàu nọ thuê một người làm quản lý cơ sở của mình. Nhưng anh quản lý bị tố cáo là tiêu tán tài sản của chủ.
1 Jesu ana bai’ufununayah iuwih eo, “Ana veya ta orot guguw wairafin ana bowayan orot ukwarin sawar kakaifen kakaf isan ana tur nowar.
2 Ông chủ liền gọi anh lại hỏi, ‘Việc tai tôi nghe về anh là làm sao? Anh hãy khai trình cho tôi những gì anh làm về tiền của tôi, vì từ nay về sau anh không được làm quản lý nữa.’
2 Basit orot ukwarin eaf na ibatiy, ‘O a bowabow isan tur anonowar i men gewasin. Ayu akokok a bowabow isan inao gewas ananowar? O a bowabowamaim i esasawar.’
3 Anh quản lý thầm nghĩ, ‘Bây giờ phải làm sao đây vì ông chủ đuổi ta rồi? Ta không đủ sức đi đào rãnh, mà đi ăn mày thì nhục quá.
3 Ana bowayan orot ukwarin ma binotanot eo, ‘Ayu au regah i au bowabowamaim ebobotaitu, ayu men fairu boro me anakwair anatar, naatu fefeyan isan boro biyau na’ohow.
4 Ta biết phải làm gì rồi để khi mất việc thì có người tiếp ta vào nhà.’
4 Baise aso’ob boro sawar ta anasinaf, saise au bowabow nasawar anatitit au ofonah afa boro au merar hinay hinabuwu bairi anama.’
5 Anh quản lý gọi tất cả các con nợ của chủ lại. Anh hỏi người đầu tiên, ‘Anh nợ chủ bao nhiêu?’
5 Basit akirwairafih iyabowat orot guguw wairafin ana sawar hibow imaim hima hibowabow eaf hina, orot ta wan run ibatiy, ‘O au regah ana sawar bai’ab kubobotan boro inibaiyan?’
6 Người ấy đáp, ‘Tám trăm thùng dầu ô-liu.’ Anh quản lý bảo, ‘Ngồi xuống, lấy giấy nợ sửa lại mau: Bốn trăm thùng.’
6 Akirwairafin iya’afut eo, ‘Olive iroro’on ana momon etei 3,000 litres ana fofonin kibub wanawanan ebatabat.’ Orot ukwarin fef itin eo, ‘Kumare kibub wanawanan iroro’on 1,500 litres ana fofonin kukirum.’
7 Xong anh hỏi con nợ khác, ‘Anh thiếu chủ bao nhiêu?’ Người ấy đáp, ‘Một ngàn hộc lúa mì.’ Anh quản lý bảo, ‘Lấy giấy nợ sửa lại: Tám trăm hộc.’
7 Orot bairou’abin ibatiy, ‘O au regah ana sawar bai’ab kubobotan boro inibaiyan?’ Akirwairafin iya’afut eo, ‘35,000 litres ana fofonin rafiy abobotan.’ Fef itin eo, ‘Kumare 17,500 kukirum.’
8 Chủ khen quản lý bất lương ấy là khôn ngoan. Thật vậy, con người thế gian thường khôn ngoan hơn người thiêng liêng.
8 Naatu orot guguw wairafin orot ana sawar kaifenayan kirum bisawar ufunamaim ana bowabow i’itin ana maramaim ana merar yi bora’ara’ah. Anayabin sabuw iyab iti tafaram nowan i hai not rerekabin nati na’atube hikirum hifufuwen o tur maiyow kurarouw, baise marakaw ana sabuw men nati na’atube tesisinaf.
9 Ta bảo các ngươi, hãy dùng của phú quí trần gian nầy mà kết bạn để khi của ấy hết rồi, thì các ngươi được đón tiếp vào nhà đời đời.
9 Naatu a tur ao’owen, tafaram ana sawaramaim sabuw kwanibaisih bairi kwani’of, saise nati sawar o biyamaim nabi’en ana veya maramaim boro a merar hinay hinabuwi bairi kwanama.
10 Người nào đáng tin cậy trong việc nhỏ thì mới đáng tin cậy trong việc lớn, còn người nào bất lương trong việc nhỏ cũng bất lương trong việc lớn.
10 “Orot yait sawar gidigidih hitumitum hibitin ekakaifen gewas, sawar gagamih auman boro hinitin nakaifen gewas, naatu orot yait sawar gidigidih hibitin men ekakaifen gewas, sawar gagamih auman boro men nakaifen gewas.
11 Nếu các ngươi không đáng tin cậy trong của cải trần gian nầy, thì ai mà dám giao cho các ngươi của cải thật?
11 Imih o iti tafaram ana sawar hitutumi hibit men kukakaifen gewas, mar ana sawar gewasih hinabit boro men inakaifen gewasomih.
12 Còn nếu các ngươi không đáng tin cậy đối với của cải của kẻ khác, thì ai dám giao cho các ngươi những của thuộc về các ngươi?
12 Sabuw afa hai sawar o hitutumi hibit men kukakaifen gewas, o a sawar hinabit boro mi’itube inakaif gewas?
13 Không ai có thể làm tôi hai chủ. Nó sẽ ghét người nầy, yêu người kia hoặc theo chủ nầy mà bỏ chủ kia. Các ngươi không thể vừa phục vụ Thượng Đế mà vừa phục vụ của cải trần gian.”
13 Bowayan orot ta’imon men karam boro orot gagamih rou’ab isah nabow, baise nakok bowamih orot ta nab naatu ta nihamiy, o orot ta isan nisnubanub naatu ta isan niskwarakwarab. O men karam boro God naatu Kabay hairi isah inabow.”
14 Những người Pha-ri-xi vốn ham tiền tài nghe thế thì chê cười Ngài.
14 Pharisee Jesu eo hima hinonowar himisir Jesu hi’i’iyab himarib, anayabin i kabay hai momorob.
15 Ngài bảo họ, “Mấy ông làm ra vẻ đạo đức trước mặt người ta, nhưng Thượng Đế thấy rõ lòng dạ các ông. Điều gì con người ham chuộng là điều gớm ghiếc trước mặt Thượng Đế.
15 Jesu misir iuwih eo, “Kwa sabuw matahimaim kwasisinaf gewas saise sabuw iti orot gewas rauwamih, baise God kwa dogor wanawanan etei i nuwatet sawar. Anayabin sawar nati na’atube sabuw hi’itah gagamih hirouw teora’ara’at, God matanamaim nati sawar i hai yabih en.
16 Luật pháp Mô-se và các lời viết của các nhà tiên tri được giảng ra cho tới khi Giăng đến. Từ lúc ấy trở đi, Tin Mừng về Nước Trời được giảng ra và người nào cũng chen nhau để vào.
16 Moses ana ofafar naatu dinab oro’orot hai tur imaim hibinan hinan John Baptist ana veya’amaim tit. Baise boun i Tur Gewasin God ana aiwob isan hibusuruf tibibinan, naatu sabuw moumurih na’in hisinaftobon hibusuruf tirur.
17 Trời đất qua đi còn dễ hơn thay đổi một nét chữ trong luật pháp.
17 Mar tafaram hairi i hamehamen maiyow boro sahiniwa’an, baise ofafar Buk Atamaninamaim hikikirum ana kouk yowanen kikimin ta boro men hinakusa’ir.
18 Nếu một người đàn ông ly dị vợ và lấy người đàn bà khác thì phạm tội ngoại tình, còn người đàn ông nào cưới một người đàn bà ly dị chồng cũng phạm tội ngoại tình.”
18 Orot yait aawan nakwahir, babin ta nabi’aawan i ana moser takweb, naatu orot yait nati babin hikwahir ma’am bai ebi’aawan i auman ana moser takweb.
19 Chúa Giê-xu kể, “Có một ông nhà giàu kia, lúc nào cũng ăn mặc áo quần sang trọng và sống xa hoa mỗi ngày.
19 “Marasika orot ta sawar wairafin ma’am ana veya, ana sawar etei gewasih, ana bar tot samir wanawanan ma mar etei hiyuw bow nan douduf in re’er.
20 Còn có một anh nhà nghèo xác xơ tên La-xa-rơ, ghẻ chốc đầy mình, được người ta khiêng đến đặt nằm trước cổng ông nhà giàu.
20 Naatu ana bar ufunane fur awanamaim i orot wabin Lazarus, yababan wairafin biyan fehefeheriy, mar etei nati’imaim teyare ema efefeyan.
21 Anh nghèo ấy chỉ mong được ăn mấy miếng bánh vụn rớt xuống từ trên bàn của ông nhà giàu. Có mấy con chó đến liếm ghẻ trên mình anh ta.
21 Ana kok i mi’itube orot ana bay taa momor gem babanamaim hitare’er i tabow taa, bi’akir naatu haru auman tena ana feher teremarem.
22 Sau đó, La-xa-rơ chết, thiên sứ mang anh đặt vào lòng của Áp-ra-ham. Ông nhà giàu cũng chết và được chôn cất.
22 Basit veya ta orot yababan wairafin morob tounamatar hire hinawiy hin maramaim Abraham biyasisir biyan hitit sisibinamaim mare. Naatu orot sawar wairafin morob hibai hire hiyai.
23 Trong chỗ người chết ông nhà giàu quá sức đau đớn. Từ xa xa ông nhìn thấy Áp-ra-ham và La-xa-rơ bên cạnh.
23 Ayubin in wairaf wanatowanin wan yen biyababan gagamin maiyow bai, nuwra’at no yate ef yok na’in Abraham itin, sisibinamaim Lazarus batabat.
24 Ông kêu, ‘Áp-ra-ham, tổ của con ơi, xin thương xót con! Xin bảo La-xa-rơ nhúng ngón tay vào nước để làm mát lưỡi con một tí vì con khổ quá sức trong lửa nầy!’
24 Basit eaf ra’at, ‘Tamai Abraham! Ayu wairaf e’arahu biyababan gagamin na’in abaib, kukabibiru Lazarus kwiyafar uman harew yan eotore menau inub, menau tobeya!’
25 Nhưng Áp-ra-ham đáp, ‘Con ơi, con hãy nhớ lại khi còn sống trên đời, con đã có đủ thứ của ngon vật lạ, còn La-xa-rơ chỉ gặp toàn những bất hạnh. Bây giờ anh ta được sống thoải mái ở đây, còn con phải chịu khổ hình.
25 Baise Abraham eo, ‘Natu inanot o tafaramamaim ima’am ana veya, sawar gewasih etei o isa karam. Lazarus ana sawar i kakafih. Baise boun i Lazarus ana veya tit ebiyasisir naatu o ayababan ana veya tit kubiyababan.
26 Hơn nữa, có một hố sâu giữa chúng ta với con, cho nên không ai có thể từ đây băng qua đó hay từ đó băng qua đây được.’
26 Naatu ata founamaim i ku’itin, fan gagamin na’in inu’in, imih sabuw iyab aki biyai’ine boro men karam o isa hinarabon, na’atube o biyane aki isai men karam boro hinarabon.’
27 Ông nhà giàu thưa, ‘Cha ơi, vậy xin sai La-xa-rơ đến nhà cha của con.
27 Basit orot sawar wairafin eo, ‘Tamai Abraham abifefeyani, Lazarus iniyafar nan tamai ana bar natit.
28 Con có năm anh em, bảo La-xa-rơ cảnh cáo họ để họ khỏi rơi vào chốn khổ hình nầy.’
28 Anayabin nati’imaim ayu taitu nah etei five tema’am nimatnuwih, saise i auman men hinan iti biyababan ana efanamaim hinatit biyah nababanamih.’
29 Nhưng Áp-ra-ham đáp, ‘Họ có luật pháp Mô-se và lời dạy của các đấng tiên tri; họ phải vâng theo các lời dạy ấy.’
29 Baise Abraham iya’afut eo, ‘Tait i Moses ema’am naatu dinab oro’orot tema’am, boro i hinimatnuwih naatu abisa hinao’o, nowar hina kok tur hinanowar.’
30 Ông nhà giàu tiếp, ‘Không phải vậy, Áp-ra-ham, cha con ơi! Nếu có người nào sống lại từ trong kẻ chết đến nới với họ, họ sẽ tin và ăn năn hối hận.’
30 Orot sawar wairafin iya’afut eo, ‘Tamai Abraham, nati i men karam, baise ana gewasin orot ta morobone namatabir maiye nan hai tur na’owen boro hai bowabow kakafih tisisinaf hinihamiyen hina’in tabir yawas gewasin hinab.’
31 Nhưng Áp-ra-ham đáp ‘Nếu họ không nghe Mô-se và các nhà tiên tri thì dù cho người chết sống lại bảo họ, họ cũng chẳng tin đâu.’”
31 Baise Abraham iya’afut maiye eo. ‘Moses naatu dinab oro’orot hinao men hinanowar hai yawas hinabobotabir na’at, orot morobone nan nao boro men hai yawas hinabotabir.’”

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 16, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.