Lucas 14
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Một ngày Sa-bát nọ, Chúa Giê-xu đến nhà một lãnh tụ người Pha-ri-xi dùng bữa, còn dân chúng thì theo dõi Ngài rất kỹ.
1 Baiyarir ana veya ta, Pharisee hai ukwarin ana baremaim Jesu bay aamih na, baise sabuw nati’imaim hima’ama i Jesu hibimtitiy.
2 Trước mặt Ngài có một người mắc bệnh thũng.
2 Naatu nati’imaim orot ta an uman hikurut ma’am yawas isan na Jesu nanamaim tit.
3 Chúa Giê-xu hỏi người Pha-ri-xi và các chuyên gia luật pháp, “Có được phép chữa bệnh trong ngày Sa-bát hay không?”
3 Baise Jesu Pharisee naatu ofafar so’ob wairafih ibatiyih, “Baiyarir ana veya’amaim ata ofafar ebibasit boro orot babin taniyawas ai en?”
4 Nhưng họ không trả lời. Chúa Giê-xu đem anh ra, chữa lành rồi cho về nhà.
4 Baise men tur ta hio. Basit Jesu orot bai iyawas naatu iu ana ubar in.
5 Ngài hỏi các người Pha-ri-xi và các chuyên gia luật pháp, “Nếu con cái hoặc bò của các ông té xuống giếng trong ngày Sa-bát, thì các ông có kéo lên liền không?”
5 Imaibo ibatiyih, “O orot ta natu o a bobaituw Baiyarir ana veya hub tare’er na’at boro itihamiy ta’in tamorob, o boro mata takabiy itarowen ra’ah tayen?”
6 Họ cứng miệng không trả lời Ngài được.
6 Sabuw baiyafutinamih hikasiy hima kwanekwan.
7 Chúa Giê-xu để ý thấy vài khách được mời ăn tranh nhau chọn chỗ tốt nhất để ngồi, Ngài liền thuật họ nghe chuyện nầy:
7 Nanawan sabuw afa bay aa ana efanamaim efan gewasih hirurubinen Jesu itih, basit oroubonamaim sabuw iuwih eo,
8 “Khi người ta mời mình dự tiệc cưới, đừng chọn chỗ sang nhất, vì nếu có người khác quan trọng hơn cũng được mời
8 “Orot ta, tabin ana hiyuw isan a kob nan na’uwi inanan men inayen efan gewasinamaim inamare’emih, anayabin orot gagamin ta auman ana kob hinan boro enan.
9 thì người chủ đã mời anh cùng người khách kia, sẽ đến nói với anh rằng, ‘Anh làm ơn nhường chỗ cho ông khách nầy.’ Rồi anh sẽ ngượng, vì phải xuống ngồi chỗ chót chăng?
9 Imih orot hiyuw matuwan airi a kob na uwi kwanan boro nayen na’uwi, ‘Aro o kumisir haw kure, tura eyen iti’imaim emare,’ o boro biya’ohow auman inamisir haw inare.
10 Nên khi mình được mời, hãy kiếm chỗ thấp nhất. Khi chủ nhà đến với anh sẽ bảo, ‘Bạn ơi, hãy lên đây ngồi chỗ quan trọng hơn.’ Như thế các khách khác sẽ kính nể anh.
10 Imih a kob hinan hina’uwi inanan, haw inamare, saise orot hiyuw matuwan a kob nan boro na’uwi, ‘Au begon kuyen seb ir yan kumare,’ o boro yasisir auman ina misir seb inayen efan gewasin inab nanawan afa bairi ir yan kwanama.
11 Vì hễ người nào làm cho mình ra quan trọng sẽ bị kéo xuống chỗ thấp kém, và người nào khiêm nhường sẽ được tôn cao.”
11 Anayabin orot yait taiyuwin i’itin ra’ah, God boro nab haw nayare, baise orot yait taiyuwin i’itin furuw God boro nayara’ah orot gagamin namatar.”
12 Sau đó Chúa Giê-xu nói với người đã mời Ngài dùng bữa rằng, “Khi anh dọn bữa trưa hoặc tối, đừng mời bạn hữu, gia đình, thân bằng quyến thuộc hoặc láng giềng giàu có đến dự mà thôi. Vì những người ấy sẽ mời anh lại lúc khác để trả bữa.
12 Imaibo Jesu bar matuwan hairi bay aamih iu nan isan eo, “Auyit o rabirab ana bay inabitab, men o a of, tait bairi a rara ta’imon, taituwa o isusu’ubih, naatu a’ofonah guguw wairafih ina’uwih hinan bairi kwana’aamih. Anayabin o nati na’atube inasinaf, i boro a bay wan hitab hinit inaa.
13 Trái lại, khi làm tiệc hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, đui mù.
13 Baise hiyuw inabowabow ana veya, yababan wairafih, ah umah kurut, ah umah duboh, matah fim, ina’uwih hinan bairi bay kwanaa,
14 Như thế anh mới được phước vì những người ấy không có cách gì để trả bữa lại cho anh. Nhưng anh sẽ được đền đáp, lúc những người nhân đức sống lại từ trong kẻ chết.”
14 saise God boro baigegewasin nit. Anayabin sabuw nati boro men a hiyuw wan hinay hinit, baise sabuw gewasih morobone hinamimisir ana veya’amaim, abisa isisinaf isan God boro imaim a wayow nit.”
15 Một trong những người ngồi cùng bàn với Chúa Giê-xu nghe những lời ấy thì nói với Ngài, “Phúc cho người nào được dự tiệc trong Nước Trời.”
15 Orot ta nati bay ana gemamaim hairi hima’am iti tur nowar, basit Jesu isan eo, “Orot yait God ana aiwobomaim hiyuw isan namamare boro yasisir gagamin maiyow nab.”
16 Chúa Giê-xu kể cho ông ta câu chuyện sau, “Có người kia bày tiệc lớn và mời nhiều người.
16 Baise Jesu oroubonamaim orot iu, “Veya ta orot ana hiyuw bogaigiwas, naatu sabuw maumurih na’in hai kob in.
17 Khi đến giờ khai tiệc, ông ta sai đầy tớ đi nhắc các khách được mời, ‘Mời quí vị đến dự. Tiệc đã sẵn sàng.’
17 Naatu hiyuw aanin isan ana veya natit, tur iyafar ana ofonah isah eo, ‘Kwanan hiyuw tanaa, sawar etei ai moyab sawar.’
18 Nhưng tất cả các khách được mời đều tìm mọi lý do để từ chối. Người đầu tiên nói, ‘Tôi mới mua một thửa ruộng, phải đi xem đã. Xin cho tôi kiếu đi.’
18 Baise etei hikwahir tur ta ta hibow hitit, orot ta eo, ‘Ayu au me boubun atubun ananutitiyimih anan, a tur ao’owen men karam boro anan.’
19 Người thứ nhì nói, ‘Tôi mới mua năm cặp bò phải đi thử đã. Xin cho tôi kiếu đi.’
19 Orot ta eo, ‘Ayu au cow baubuh etei ten atobon, imih baimanamen isan anan, a tur ao’owen men karam boro anan.’
20 Người thứ ba nói, ‘Tôi mới cưới vợ; tiếc quá không đến được.’
20 Naatu orot ta eo, ‘Ayu i boubun atabin, imih men karam boro aawau anihamiy nama airit tanan.’
21 Đầy tớ về trình lại cho chủ. Ông chủ liền nổi giận bảo, ‘Thôi, mầy hãy đi ngay ra các đường, các hang cùng ngõ hẻm của thành phố, mang những người nghèo khổ, đui què mẻ sứt vào đây.’
21 Akir wairafin matabir maiye na orot gagamin ana tur eowen. Bar matuwan yan so’ar ana akir wairafin iu, ‘Saife kutit kwen ef gagamih yahimaim naatu bar merar hai ef yahimaim sabuw kakafih, yababan wairafih, ah umah kurut, ah umah murubih, matan fim initeten inan hiyuw tanaa.’
22 Sau đó đứa đầy tớ trình, ‘Thưa chủ, tôi đã làm theo điều chủ dặn, nhưng bàn tiệc vẫn còn chỗ trống.’
22 Naatu akir wairafin eo, Regah, io na’atube i asinaf, baise bar awan i men karatan.’
23 Người chủ bảo đầy tớ, ‘Đi ra các đường tỉnh, đường làng cố mời mọc mọi người vào để đầy nhà ta.
23 Imaibo orot ana akir wairafin iu, ‘Kutit kwen bar merar hai ef gagamih yahimaim, naatu ef gidigidih rewahimaim, sabuw iyab nati’imaim ina’i’itih inabuwih kwanan, saise au bar awan nakaratan.’
24 Vì không một người nào được mời lúc đầu được phép ăn với ta đâu.’”
24 A tur ao’owen sabuw iyab wan hai kob anan i men hikok imih boro men yait ta au hiyuw nakatubunimih!”
25 Dân chúng đi theo Chúa Giê-xu rất đông. Ngài quay lại dạy dỗ họ rằng,
25 Ana veya ta sabuw rau’ay gagamin na’in Jesu hi’ufunun bairi hinan tatabir iuwih eo,
26 “Nếu ai theo ta mà yêu cha, mẹ, vợ, con, anh chị em—hoặc chính mạng sống mình—hơn ta thì người đó không thể nào làm môn đệ ta được.
26 “Orot yait ayu ebi’ufnunu, baise hinah, tamah, aawan natunatun, taitin, ruburubun isah ebiyabow naatu i taiyuwin auman ana yawas isan ebiyabow, nati orot i men karam boro ayu ni’ufnunu.
27 Người nào không bằng lòng vác thập tự giá mình theo ta thì không thể làm môn đệ ta.
27 Orot yait ana onaf na’abar ayu ananamaim ni’ufnunu airi ananan i ayu au bai’ufununayan.
28 Các ngươi muốn xây một cái tháp thì trước hết phải ngồi xuống tính phí tổn xem mình có đủ tiền để xây không.
28 Orot ta ana bar wowabinamih boro men asir nawowab kwaniyimih, baise wan i boro namare ana bar ayubin nayakitifuw, ana baiyan boro bai’ab naatu ana kabay karam boro iti bar nawowab nisawar ai en.
29 Nếu không thì vừa đặt nền rồi là chẳng còn tiền để hoàn tất dự án. Mọi người qua lại thấy sẽ chê cười ngươi,
29 Anayabin ana kabay men nakakaram na’at boro tafah nararauwen ufunamaim wowabina’e nabat, naatu sabuw afa tafawat hinabatabat hina’itin boro hini’iyab hinamarib,
30 bảo rằng ‘Ông nầy khởi công xây mà làm không xong.’
30 hinao, ‘Iti orot bar wowabinamihibe busuruf tafawat rauwen naatu ihamiy ebatabat.’
31 Nếu một vua muốn đi ra đánh giặc với một vua khác, thì trước hết phải ngồi xuống trù tính kế hoạch. Phải tính xem thử với một vạn binh sĩ dưới quyền mình có đủ sức đánh bại vua kia với hai vạn binh sĩ không.
31 Itinin tabo iti, aiwob orot ta ana baiyowayah etei 10,000 tabow, aiwob orot ta hairi baiyowamih tan, baise aiwob orot ta ana baiyowayah etei i 20,000 imih nati aiwob ta i boro tamare tama tanot, ‘Ayu karam boro nati aiwob orot airi aniyow?’
32 Nếu không thì trong khi vua kia còn ở xa, vội vàng sai sứ xin cầu hòa.
32 Naatu tanotanot men takakaram na’at, i boro ef yok tama tur tiyafar aiwob turan hairi hitao tufuw hita’afuw.
33 Cũng vậy, các ngươi phải bằng lòng từ bỏ những gì mình có mới làm môn đệ ta được.
33 Ef i nati ta’imon, orot yait nakok ayu bai’ufnunu’umih mat i ana sawar etei nakwahir nayaraiyen.
34 Muối rất ích lợi nhưng nếu nó mất mặn đi thì không có cách gì làm cho nó mặn lại được.
34 Riy i gewasin, baise naniyan nabi’en boro hinisaroun, anayabin men karam boro hiniwa’an riy namatar maiye.
35 Muối ấy trở thành vô dụng, dù để bón đất hoặc làm phân cũng không được; chỉ có ném bỏ thôi.
35 Naatu me yan ub yen gewas isan hinayayare boro men ana gewasin ta namatar, imih boro hinisaroun. Imih o yait tain ema’am inarub tur iti inanowar gewas!”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 14, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.