Lucas 12
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Hàng ngàn người tụ tập đến nỗi dẫm lên nhau. Trước hết Chúa Giê-xu nói chuyện với các môn đệ, “Các con hãy thận trọng về men của người Pha-ri-xi vì họ là những kẻ giả đạo đức.
1 Nati ana veya’amaim sabuw hiruru’ay ana itinin i sibisib na’atube, naatu sabuw himour kwanekwan efan etei hibai karam hi’a’abinamo hibat. Jesu ana bai’ufununayah iuwih eo, “Pharisee hai yeast isan mata toniwa’an, nati sabuw ufuhine ana itinin i gewasin baise wanawanah i rerekabin, imih a tur ao’owen.
2 Điều gì kín giấu rồi sẽ lộ ra, việc gì bí ẩn rồi cũng bị phơi bày.
2 Abisa hisabuw inu’in boro sabusabuw hinabosair, naatu abisa wa’iwa’irin inu’in boro nirerereb.
3 Điều gì các con nói trong tối sẽ được nghe trong ánh sáng, và điều gì các con thì thầm trong phòng kín sẽ được rao to trên nóc nhà.”
3 Abisa guguminamaim kuo boro natit marakawamaim hinanowar, naatu abisa akisimo bar etawan ihir taituwa taininamaim kubitarasib boro bar faifiy wan hinabat hinao rereb.
4 “Ta bảo điều nầy cho các con là bạn hữu ta: Đừng sợ kẻ giết phần xác, rồi không thể làm được gì nữa để hại các con.
4 “Au ofonah a tur ao’owen sabuw iyab biya hina’a’asabun isan men kwanabir, anayabin nati ufunamaim boro men abisa ta hinasinaf.
5 Ta cho các con biết phải sợ ai. Phải sợ Đấng có quyền giết và ném các con vào hỏa ngục. Đó chính là Đấng mà các con phải sợ.
5 Orot yait kwana bibiruw i anao kwananowar. God i kwanabiruw, anayabin biya na’a’asabun ufunamaim ana fair ema’am boro baimakiy ana efanamaim nitaiy kwanare. Imih a tur ao’owen God i kwanabiruw.
6 Năm con chim sẻ tuy chỉ đáng giá hai xu, nhưng Thượng Đế không quên một con nào cả.
6 Mamu kwikwik etei five hai biyan i two toea tetotobon, baise God boro men kafa’imo nati mamu kikimin ta isan nuhin eburuburumih.
7 Ngay đến tóc trên đầu các con có bao nhiêu sợi Ngài cũng biết. Đừng sợ, vì các con quí giá hơn chim sẻ nhiều.
7 Na’atube ukwarimaim arib eretei bai’ab tebatabat God i so’ob, imih men kwanabir. Kwa a baiyan i ra’at men mamu kwikwik na’atube.
8 Ta cho các con biết, hễ ai đứng trước mặt người khác mà nhận rằng mình tin theo ta thì ta đây, là Con Người, sẽ xác nhận trước mặt thiên sứ của Thượng Đế, là người ấy thuộc về ta.
8 A tur ao’owen, orot yait ayu isou sabuw etei nahimaim eo’orereb, Orot Natun auman boro God ana tounamatar etei nahimaim nati orot isan naorereb.
9 Còn ai đứng trước mặt người khác mà chối bỏ ta thì ta cũng chối bỏ họ trước các thiên sứ của Thượng Đế.
9 Baise orot yait sabuw etei nahimaim ayu eyayaubu. Orot Natun auman boro na’atube God ana tounamatar etei nahimaim ibo nayaub.
10 Ai nói phạm đến Con Người có thể được tha thứ nhưng ai nói phạm đến Thánh Linh sẽ không được tha đâu.
10 Yait Orot Natun isan tur nao kakaf na’at boro nanotawiy, baise orot yait Anun Kakafiyin isan tur kakafin nao nabi’ib boro men nanotawiy.
11 Khi các con bị đưa vào các hội đường để trình diện với các lãnh tụ và các nhà cầm quyền thì đừng lo không biết phải tự bênh vực hoặc ăn nói làm sao.
11 Baibabatiyi isan hinabuwi kwanan Kou’ay Baremaim, o gawan sabuw nahimaim, o aiwob sabuw nahimaim, men taiyuw wasfafari isan, o tur mi’itube eo isan kwaniyababanamih.
12 Lúc đó Thánh Linh sẽ dạy các con những lời gì phải nói.”
12 Anayabin God Anun Kakafiyin nati ana veya’amaim boro tur ni’obaiyi kwanao.”
13 Có người trong đám quần chúng thưa với Ngài, “Thưa thầy, xin bảo anh tôi chia cho tôi phần gia sản mà cha chúng tôi đã để lại.”
13 Rou’ay wanawanahimaim orot ta Jesu iu, “Bai’obaiyenayan, ayu akokok tuwai ana tur ina’owen, tamai momorob ana kwahan nafaram airi ana bow.”
14 Nhưng Chúa Giê-xu nói với anh, “Ai giao cho ta nhiệm vụ phân xử giữa hai anh em của anh?”
14 Jesu iya’afut eo, “Aro, ayu au ef men ema’am boro anibasit tuwat airi a sawar kwahan ana faram?”
15 Rồi Chúa Giê-xu dạy dân chúng, “Phải thận trọng và đề phòng mọi hình thức tham lam. Đời sống không phải được đo lường bằng của cải mình nhiều hay ít đâu.”
15 Naatu Jesu tatabir sabuw etei iuwih eo, “Mata toniwa’an sawar moumurih na’in bow isan men mata nananan niwa’an. Anayabin yawas wanatowan boro men orot ana sawar moumurih imaim hinafufun hinitinimih.”
16 Sau đó Ngài kể chuyện nầy: “Người nhà giàu nọ có một số đất đai. Đất đó sinh lợi nhiều lắm.
16 Naatu Jesu oroubon ta eo, “Ana veya ta orot sawar wairafin ana masaw bo ana ub hiyen gewas hiw ro’oh moumurih na’in hiya itah,
17 Ông ta tự nhủ, ‘Bây giờ ta phải làm sao đây? Vì ta không có đủ chỗ chứa hết hoa màu.’
17 basit mare ma not. ‘Ayu boro mi’itube ana sinaf? Anayabin iti bay hinafafour efan i boro en.’
18 Rồi ông bảo, ‘Bây giờ ta sẽ làm thế nầy: Ta sẽ phá hết các kho, xây nhiều cái khác lớn hơn để chứa hết hoa màu và của cải.’
18 Naatu ana notamaim eo, ‘Ayu boro iti na’atube ana sinaf, bay hai bar atamanih ana ku’uben hinare naatu gagamih ana wowab. Saise au bay ana ya naatu au sawar afa auman imaim ana ya.’
19 Rồi ta sẽ tự nhủ rằng, ‘Ta đã trữ đủ mọi vật tốt đủ dùng nhiều năm rồi. Thôi bây giờ hãy nghỉ ngơi, ăn uống và hưởng thụ đi!’
19 Imaibo anao, ‘Darik orot, anababatun abow, kwamur manin na’in ana fofonin sawar etei abogaigiwas sawar, imih bounabo hamen ana mare anama gewas, anaa anatom taiyuwu aniyasisir!’
20 Nhưng Thượng Đế hỏi người ấy rằng, ‘Anh khờ kia ơi! Nếu đêm nay mạng sống anh sẽ bị cất đi thì ai sẽ hưởng những gì anh đã dành cho mình?’
20 Baise God iu, ‘Kwikwekwe’aw gewas! Boun gugumin boro inamorob naatu a sawar iti ibobogaigiwas boro yait nabow?’”
21 Ai tích trữ của cải riêng cho mình mà không giàu có trong Thượng Đế cũng giống như thế.”
21 Naatu Jesu ana tur yomaninamaim eo, “Imih itinin i ta’imon, sabuw iyab aurih sawar karam hiya tetototo God matanamaim i men sawar wairafih.”
22 Chúa Giê-xu dạy các môn đệ, “Ta bảo các con, đừng lo phải ăn gì để sống hay mặc gì để che thân.
22 Imaibo Jesu ana bai’ufununayah iuwih eo, “A yawas isan a tur ao’owen men kwaniyababan kwanao, ‘bay boro menamaim anab ana’aan,’ o biya isan kwanao, faifuw boro menamaim anab ana’us.
23 Mạng sống quí trọng hơn thức ăn, thân thể quí trọng hơn quần áo.
23 Anayabin it etei taso’ob yawas i sawar gagamin men bay na’atube naatu biyat i sawar gagamin men ar faifuw na’atube.
24 Hãy nhìn loài chim trời. Chúng nó không trồng trọt, chẳng gặt hái, cũng không có vựa kho gì, nhưng Thượng Đế còn nuôi chúng nó. Các con đáng giá hơn chim chóc nhiều.
24 Baise kwanuw mamu awaw kwana’itih, i men me hikwair hitar, masaw hibo, naatu hifour hitab te’aa’umih en, na’atube men bay hai bar hiwowab imaim bay teya’aya’amih en, baise God akisin ebituwih! Imih kwa i God ana sawar gagamin men mamu na’atube!
25 Các con không thể lo âu mà làm cho đời mình dài thêm được giây phút nào.
25 Isan imih iti sawar isah kwana biyababan ana gewasin i boro abisa namatar? Kwanotanot nati kwana biyababanamaim boro kwamur tabo ayawas tafan hina yara’ah namanin kwanama? Men karam.
26 Nếu ngay trong những việc rất nhỏ các con còn làm không được, thì tại sao lo âu đến những việc lớn?
26 A yababan iti sawar gidigidih isah kwabiyababan men emamatar, aisim sawar gagamih isah kwabiyababan?
27 Hãy xem loài hoa huệ; chúng nó chẳng vất vả cũng không may mặc gì, nhưng ta cho các con biết là dù vua Sô-lô-môn giàu sang đến đâu đi nữa cũng chưa được mặc đẹp bằng một trong những đóa hoa huệ ấy.
27 “Kwanuw rarab bogay ebatabat kwa’itin, men masaw hitar tebob, o ar faifuw tesasakir en, baise a tur ao’owen aiwob orot Solomon ana bar bonamanamarinamaim ma’am ana veya ana faifuw eo’osen hai gewasih i men iti beran ana gewasin na’atube’emih en.
28 Hoa cỏ ngoài đồng là loài nay sống mai bị ném vào lửa để chụm mà Thượng Đế còn cho chúng mặc đẹp như thế, thì Ngài lại không mặc đẹp cho các con sao? Đừng quá ít đức tin.
28 Imih kwana’itin, God ar faifuw kutor fotan ius ana itinin gewasin maiyow boun ina’itin baise maras boro nakimow naha’obow nare hinab hinan wairaf wan hina yara’ah na’arah ni’en. Baise kwa i God ana sawar gagamin fai mar etei boro nakaifi ar faifuw nit kwana’osen, aisim a not ebikikimin!
29 Đừng luôn bận tâm lo nghĩ phải ăn gì, uống gì, đừng quá lo âu.
29 Imih men mar etei aa tom isan kwananot kwaniyababanamih.
30 Ai trên đời nầy cũng đều tìm kiếm những thứ ấy, mà Cha các con đã biết các con cần những thứ ấy rồi.
30 Anayabin Eteni Sabuw iti tafaram wanawanan tutufin etei iti sawar isah hinuwet tibiyababan, naatu kwa Tamat iti sawar etei isah kwakok kwabiyababan i so’ob.
31 Nhưng hãy tìm kiếm Nước Trời thì những thứ khác mà các con cần sẽ được ban cho các con.
31 Baise wan i God ana aiwob kwananuwih kwanab dogoromaim nama, imaibo iti sawar isah kwanot kwabiyababan boro etei nit.
32 Bầy trẻ thơ của ta ơi, đừng sợ, vì Cha các con muốn ban Nước Trời cho các con.
32 Kwa i ayu au bobaituw na’atube imih men kwanabir, anayabin Tamat aiwob bait isan i ebiyasisir boro nit.
33 Hãy bán của cải các con mà phân phát cho người nghèo. Hãy kiếm cho mình ví không mòn, của cải trên thiên đàng không bao giờ cạn, nơi mà kẻ trộm không đánh cắp và mối mọt không hủy hoại.
33 Imih a sawar eretei sabuw kabay wairafih ku’uwih tetobon naatu o kabay kubai yababan wairafih kufaramih, saise a kaukut no maramaim inabaib boro men natakweb; a sawar etei maramaim inaya’ay boro men ta nakasiy, o boro men ta bainowan hinabain naatu boro men ta ganidor hina’aanimih en anababatun.
34 Của đâu thì lòng đó.
34 Anayabin o sawar menamaim kuya’aya a not tutufin etei boro imaim na’in.
35 Phải ăn mặc chỉnh tề, sẵn sàng phục vụ, đèn phải thắp sáng lên.
35 “Mar etei inabobuna a ar uwakamukamut inarab, a ramef inito’ab namarakaw o mata nuwinuwin inama, anayabin o men iso’ob boro abisa namatar.
36 Phải làm giống như những đầy tớ chờ chủ dự tiệc cưới về. Khi chủ về đến nhà, gõ cửa thì nó liền mở.
36 Ana’itin akir wairafih hai orot ukwarin tabin ana hiyuwane matabir maiye nan isan hima hikakaif, hai orot ukwarin matabir na etawan rurukikitar ana veya mar ta’imon hinowar naatu etawan hibotawiy rur na’atube.
37 Phúc cho những đầy tớ ấy khi chủ về mà thấy chúng nó chờ đợi mình. Ta bảo thật, chủ sẽ mặc đồ để hầu hạ và bảo đầy tớ ngồi vào bàn, còn chủ sẽ hầu những đầy tớ ấy.
37 Anababatun a tur ao’owen, akir wairafih iyab matah nuwinuwin hinama’am hai orot ukwarin namatabir nan na’i’itih ana veya, yasisir boro gagamin maiyow hinab! Anayabin i boro ana akir wairafih na’uwih hinamare naatu orot ukwarin boro bay semosemor ana faifuw na’us bay nasemor nitih hinama hinaa.
38 Phúc cho những đầy tớ như thế khi chủ về, thấy chúng đang chờ mình, dù chờ đến nửa đêm hay khuya hơn.
38 Akirwairafih hina bobuna matah nuwinuwin hina ma’am hai orot ukwarin nan natit, o mar natot auman nan natit na’i’itih na’at, boro yasisir gagamin maiyow hinab!
39 Nên nhớ điều nầy: Nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến thì chắc chắn ông ta không để cho nó lẻn vô nhà mình được.
39 Imih iti tur ao i naniyan kwanab naatu kwananot, orot bar matuwan bainowan mowan bainuwinamih enan ana veya nasoso’ob na’at, ana bar boro men nihamiy bainowan mowan nakwib narun nabainuwimih en.
40 Nên các con phải sẵn sàng vì Con Người sẽ đến vào lúc các con không ngờ!”
40 Imih itinin ta’imon i nati, kwa auman kwana bogewas mata nuwinuwin kwanama, anayabin Orot Natun boro men veya kwa kwanotanotamaim natitamih.”
41 Phia-rơ hỏi, “Thưa Chúa, Ngài kể chuyện nầy cho chúng con hay cho tất cả mọi người?”
41 Peter eo, “Regah, iti oroubon kuo i aki isai, o sabuw eretei isah kuo?”
42 Chúa đáp, “Ai là người đầy tớ khôn ngoan và tin cẩn để chủ nhà giao nhiệm vụ phân phát thức ăn cho các đầy tớ khác đúng giờ giấc?
42 Regah iya’afut eo, “Anababatun a tur ao’owen Akir wairafin orot gewasin naatu ana not rerekabin, orot ukwarin nati akir wairafin boro nab akir wairafih afa isah ni’ukwarin naatu hai bay baitih isan boro ana veya’amaim nitih hinaa.
43 Khi chủ nhà về, thấy đầy tớ ấy đang làm bổn phận thì nó sẽ có phúc.
43 Anayabin orot ukwarin matabir nan nati akir wairafin bowabow gewasin maiyow bowabow itin, imih iyasisir ana akir wairafin bai yara’ah bowabow gagamin na’in itin!
44 Ta bảo thật, người chủ sẽ chọn người đầy tớ đó để quản lý tất cả tài sản của mình.
44 Ana bar wanawanan sawar tutufin etei i akisin i’ukwarin kaif.
45 Nhưng nếu tên đầy tớ ấy nghĩ rằng, ‘Chủ ta còn lâu mới về,’ rồi đánh đập các đầy tớ trai và gái khác, xong ăn uống nhậu nhẹt say sưa.
45 Baise akir wairafin na’at nao, ‘Orot ukwarin bisaise enan, no’om boro ma hamen hamen erurubirabir, imih ayu boro au kokomaim anasinaf.’ Naatu namisir bowabow sabuw, oro’orot baibin nabow narouw kwanekwan ni’a’afiyih, naatu ana kokomaim naa natom kwanekwan nikoko’aw nanan ana veya.
46 Ông chủ sẽ về trong khi nó chẳng chuẩn bị và không ngờ đến. Chủ sẽ banh xác nó và tống cổ cho nó cùng chung số phận với những đứa đầy tớ bất tuân khác.
46 Imaibo Orot ukwarin boro nan natit, veya men nati akir wairafin so’ob ma ekakaifimaim boro nanamih, naatu na isan ana veya boro baimatnuwina’e nama’am nan natit. Naatu orot ukwarin nan natitit ana veya nati akir wairafin boro nab nabeyah natarsisib nisaroun baifanasairayah hai efanamaim bairi hinama.”
47 Người đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị hoặc không thèm làm theo sẽ bị trừng trị nặng hơn!
47 “Akir wairafin ana orot ukwarin abisa sinafumih kokok i so’ob baise men saife taiyuwin yabuna ana orot ukwarin abisa kok eo’omaim sisinaf, nati orot boro hinawabir biyababan gagamin na’in nab.
48 Nhưng người đầy tớ nào không biết ý chủ mà làm điều đáng trách thì bị trừng phạt nhẹ hơn. Người nào được cho nhiều thì bị đòi lại nhiều. Người nào được tin cẩn nhiều, thì bị đòi hỏi nhiều hơn.”
48 Baise akir wairafin ana orot ukwarin abisa sinafumih kokok i men so’ob, naatu isisinaf kwanekwan biyababan enunuwih boro au hamenamo hinawabir biyan nababan. Sabuw iyab sawar gagamin na’in tebaib, i na’atube sawar gagamin na’in boro wan hinay maiye. Orot yait gagamin anababatun tibitin i auman boro gagamin anababatun isan hinafefeyan nitih maiye.
49 Ta đến để đốt cháy thế giới và ta mong nó phát hỏa!
49 “Ayu i wairaf abai iti tafaram afuninamih ana atit, au kok gagamin na’in i mi’itube iti tafaram marasika tabusuruf ta’arah.
50 Ta có một lễ báp-têm phải trải qua, và ta rất băn khoăn cho đến khi lễ ấy xong xuôi.
50 Ayu i bapataito fokarin maiyow nou’umaim ema’am boro wanawanan ana run anab, imih boun dogorou wanawanan i yababan awan karatan ama anotanot anan yomanin anisawar imaibo nuhunafot!
51 Các con tưởng rằng ta đến để mang hòa bình cho thế giới sao? Không, ta đến để phân rẽ thế giới.
51 Kwa kwanotanot ayu i tufuw abai tafaramamaim ana? En, a tur ao’owen, ayu i men tufuw abai anamih, baise kauseb abai ana.
52 Từ rày về sau, một gia đình năm người sẽ bị phân ly, ba chống hai và hai chống ba.
52 Mar iti boun orot aawan natunatunawat nah etei five boro hinakusib tounu rounane hinabat rou’ab rounane hinabat taiyuwih hinakusib hinigamigam.
53 Họ sẽ bị chia rẽ: Cha nghịch con trai, con trai nghịch cha, mẹ nghịch con gái và con gái nghịch mẹ, mẹ chồng nghịch con dâu và con dâu nghịch mẹ chồng.
53 Kek tamah hairi boro taiyuwih hinakusib hinagam. Babitai hinah hairi boro hinakusib hinagam na’atube babine rawan babin hairi boro hinakusib hinagam.”
54 Sau đó Chúa Giê-xu bảo dân chúng, “Khi thấy mây kéo lên từ hướng Tây, các ngươi bảo, ‘Trời sắp mưa,’ thì quả đúng như thế.
54 Jesu sabuw isah iban eo maiye, “Veya ra’iyinane sakuk nayen nabi’afar badowan kwana’i’itin ana maramaim, kwa boro mar ta’imon kwanao, ‘boun boro toun nayar’, naatu toun eyarayar.
55 Khi cảm thấy gió Nam thổi, các ngươi nói, ‘Hôm nay trời sẽ oi bức,’ thì quả đúng thế.
55 Naatu gurufune gagub nayen narab kwananowar kwa boro kwanao, Veya boro nararan, naatu veya erararan.
56 Nầy kẻ đạo đức giả! Các ngươi biết nhận dạng trời đất mà không nhận ra được những biến chuyển đang xảy ra sao?
56 Wanawanan rerekabih! Me kamar hai sawar naatu gagub wanawanan hai sawar abisa temamatar i kwa’itah kwa’inanen kwaso’ob kwa’o. Baise aisim sawar abisa iti boun temamatar hai yabih men kwaso’ob?
57 Sao các ngươi không tự nhận biết điều phải?
57 Aisim sawar abisa gewasin sinaf isan men taiyuw kwabibabatiyi?
58 Nếu kẻ thù lôi các ngươi ra trước tòa án thì hãy cố gắng giàn xếp với họ đang khi trên đường đi đến tòa. Nếu không, họ sẽ đưa các ngươi ra trước quan tòa, rồi quan tòa giao các ngươi cho chủ ngục và chủ ngục tống giam các ngươi vào tù.
58 Sabuw baibatiyih isan hinabuwi kwanan inasinaftobon airi kwanayabuna kwanitounuw, imaibo kwananan baibatiyenamaim kwanatit. Baise o men inasisinaf na’at, i boro nabuw narab natain kwekwetar kwanan baibabatiyenayan orot nanamaim kwanatit naatu i boro nabuw furisiman nitih hinabuwi dibur hina yariyi.
59 Ta bảo thật, nếu các ngươi chưa trả hết đồng nợ cuối cùng thì không bước chân ra khỏi tù được đâu.”
59 A tur ao’owen, o boro dibur bar imaim inama agim hio na’atube inibaiyan imaibo boro dibur barene hinabotaiti inatit.”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 12, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.