Lucas 10
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Sau đó Chúa chọn bảy mươi hai người khác, rồi sai họ đi trước từng toán hai người đến những tỉnh và địa điểm Ngài định ghé qua.
1 Iti ufunamaim Jesu orot afa’abo rubinih, nah etei 72. Naatu efan i na bainanawanamih notanot imaim rouru’ab wan iyafarih hin. Bar awan, awan hirun hitit hibinan hiremor.
2 Ngài dặn họ, “Mùa gặt thì trúng nhưng thợ gặt thì thiếu. Nên hãy cầu xin Thượng Đế gởi thêm người đến tiếp tay gặt hái.
2 Jesu iuwih eo, “Masaw i gagamin na’in iyamur, baise fourayah i matan ta’amo. Isan imih Regah fourayan matuwan isan kwanayoyoban saise bowayah moumurihika niyafarih hinan masaw hinafour.
3 Bây giờ hãy lên đường, nhưng nghe đây! Ta sai các con ra đi chẳng khác nào chiên vào giữa muông sói.
3 Kwatit kwan! Sheep na’atube abiyafari haru kakafih wanawanahimaim kwananamih.
4 Đừng mang theo ví, túi, giày và đừng phí thì giờ nói chuyện với ai dọc đường.
4 Kwanatitit umamaim men Kaukut ta kwanab, hafoy, a baibiyow ta kwanab; naatu efamaim men kwanabat sabuw kwanibabatiyihimih.
5 Trước khi các con bước vào nhà nào thì hãy chúc, ‘Bình an cho nhà nầy.’
5 Bar menatan kwanarur wantoro’ot kwanao, “Tufuw kwa etei isa nama.’
6 Nếu những người ở đó có tinh thần hòa bình, thì phúc hòa bình các con sẽ ở với họ; nếu không, phúc lành đó sẽ trở về với các con.
6 Naatu nati bar wanawanan tufuw ana orot nama’am na’at, kwa tufuw kwabitin boro nab, baise en na’at, a tufuw kwabitin boro namatabir maiye kwanab.
7 Hãy ở trong nhà ấy, ăn uống những gì người ta mời. Người làm công phải được trả lương. Đừng chuyển từ nhà nầy sang nhà khác.
7 Naatu bar nati kwarun kwabaib imaim kwanama, siwar abisa’awat tibit i kwanabow kwanaa kwanatom bairi kwanama, anayabin bowabow sabuw tebowabow i hai baiyan tebaib. Naatu men bar bar afe kwana yara’ara’ah kwanaremor.
8 Nếu đến một thành nào mà dân chúng ở đó tiếp đón các con, hãy ăn những gì họ cho.
8 Bar merar menatan kwanatitit a merar hinay hinabuwi, abisa hinabit kwanab kwana’aan,
9 Hãy chữa lành những kẻ đau và bảo họ, ‘Nước Trời rất gần với các ông bà lắm.’
9 nati bar meraramaim sawusawuwih kwaniyawasih, naatu hai tur kwana’owen ‘God ana aiwob i natit sawar.’
10 Còn nếu đến một thành nào mà dân chúng ở đó không tiếp đón các con, thì hãy đi ra giữa phố tuyên bố,
10 Baise bar merar menatan kwanarur sabuw men a merar hinayiy, kwanatit ef yan kwanabat kwanao,
11 ‘Ngay cả bụi đất trong tỉnh các ông bà dính nơi chân, chúng tôi cũng phủi sạch hết để làm chứng nghịch lại các ông bà. Nhưng nên nhớ là Nước Trời gần đến rồi.’
11 ‘Aki ai fofob iti a bar a meraramaim arutatab bebeyan abimatnuwi kwa a baimakiy isan. Baise men nuhi nabur God ana Aiwob i na iyubin sawar.’
12 Ta nói cho các con biết, đến Ngày Xét Xử, dân Xô-đôm còn bị phạt nhẹ hơn dân thành ấy.
12 Anababatun a tur ao’owen baibatebat ana veya nati bar merar sabuw i boro baimakiy gagamin na’in hinab, men Sodom sabuw hibaib na’atube’emih.
13 Khốn cho mầy, thành Cô-ra-xin! Khốn cho ngươi, thành Bết-xai-đa! Vì nếu những phép lạ ta đã làm giữa các ngươi mà đem làm giữa các thành Tia và Xi-đôn thì dân chúng ở đó đã ăn năn hối hận lâu rồi. Họ chắc chắn đã mặc vải sô, rắc tro lên đầu để chứng tỏ đã được thay đổi.
13 Chorazin sabuw naatu Bethsaida sabuw, kwa i boro sawar kakafin maiyow isa namatar! Anayabin ina’inan iti kwa biyamaim asisinaf marasika Taiya, Sidon sabuw biyahimaim ata sinaf, mar ta’imon boro hai bowabow kakafih notawiyen isan yuhwah gao hitarab hai kakafih hitae’en!
14 Đến Ngày Xét Xử hai thành Tia và Xi-đôn sẽ bị phạt nhẹ hơn các ngươi.
14 Baise baibatebat ana veya Taiya naatu Sidon sabuw God boro kaifai nakabibirih, naatu kwa i boro baimakiy gagamin na’in kwanab.
15 Còn ngươi, thành Ca-bê-nâm, ngươi được nâng lên đến tận trời sao? Không! Ngươi sẽ bị ném xuống âm phủ!
15 Kwa Capernaum sabuw! Wab kwabora’ah a fair kwabibigan, God boro nagurusi morob ana efanamaim nitaiy kwanare!”
16 Ai nghe các con tức nghe ta, còn ai gạt bỏ các con tức gạt bỏ ta. Còn ai gạt bỏ ta tức gạt bỏ Đấng đã sai ta đến.”
16 Naatu Jesu ana bai’ufununayah iuwih eo, “Orot yait a tur enonowar, nati i ayu au tur enonowar, na’atube orot yait ekwakwahiri nati i ayu ekwakwahiru. Naatu orot yait ayu ekwakwahiru, nati i yait ayu iyafaru anan i ekwakwahir.”
17 Khi bảy mươi hai sứ đồ trở về, họ rất hớn hở và báo cáo, “Thưa Chúa, khi chúng con nhân danh Ngài thì đến ác quỉ cũng vâng lời chúng con!”
17 Orot nah etei 72 yasisiramaim hina Jesu biyan hitit hio, “Regah, o wabimaim demon au’uwih i mar ta’imon fanai hibai hititit.”
18 Chúa Giê-xu bảo, “Ta thấy Sa-tăng từ trời rơi xuống như chớp.
18 Jesu iyafutih eo, “Satan marane namanamar na’atube bokiyakiyat hea’obow re’er a’itin.
19 Nghe đây, ta ban cho các con quyền dẫm lên rắn rít và bọ cạp, quyền ấy lớn hơn quyền của kẻ thù nữa. Cho nên không có gì làm hại các con được.
19 Kwananowar fair etei kwa ait aonowahi sawar, imih kwa boro kok naatu sana’ar tafah kwanabat kwanaremor, na’atube rakit hai ahay hai waf etei boro kwanawasatan, boro men abis ta niyababanimih.
20 Nhưng các con không nên mừng vì quỉ phục các con mà hãy mừng vì tên các con đã được ghi trên thiên đàng.”
20 Naatu demon kakafih kwa’uwih fana hibai hibibihir isan men kwaniyasisir. baise maramaim God wab kikirum isan i kwaniyasisir.”
21 Bấy giờ Chúa Giê-xu mừng rỡ trong Thánh Linh. Ngài nói, “Thưa Cha, Con ca ngợi Cha là Chúa của trời đất, vì Cha đã giấu những điều nầy khỏi những người khôn ngoan thông sáng mà bày tỏ cho những người có lòng đơn sơ như trẻ thơ. Vâng, thưa Cha vì đó là điều Ngài muốn.
21 Nati ana veya’amaim God Anunin Kakafiyin Jesu iwa’an yan wanawanan yasisir awan karatan eo, “Tamai o i mar tafaram ana aiwob! A merar ayiy anayabin sawar iti etei o sabuw so’obayah naatu sabuw notanotayah men i’obaiyih, baise ibun na’atube ma’am boro’obo natunat bereberefiy i i’obaiyih tesoso’ob isan, Tamai a merar ayiy, iti sawar etei i o a kokomaim isinaf temamatar.”
22 Cha đã giao mọi việc cho Con. Không ai biết Con là ai ngoại trừ Cha, cũng không ai biết Cha ngoại trừ Con và những người mà Con muốn tỏ cho biết.”
22 Naatu Jesu iuwih eo, “Sawar tutufin etei Tamai ayu itu, men yait ta so’ob ayu i God Natun, baise Tamai akisinamo so’ob, na’atube men yait ta Tamai so’ob, baise ayu i Natun akisu’umo aso’ob. Naatu sabuw iyabowat i Natun rurubinihiwat boro God isah nirerereb hinaso’ob.”
23 Rồi Chúa Giê-xu quay qua các môn đệ và nói riêng, “Các con có phúc vì được thấy những điều các con hiện đang thấy.
23 Imaibo Jesu tatabir ana bai’ufununayah akisihimo iuwih eo, “Kwa i kwabiyasisir anayabin God ana bowabow anababatun mata yan kwa’i’itin.
24 Ta nói cho các con biết, có rất nhiều nhà tiên tri và vua chúa mong được thấy điều các con hiện đang thấy, muốn nghe điều các con hiện đang nghe mà không được.”
24 Anababatun a tur ao’owen, dinab oro’orot naatu aiwob sabuw hikok kwanekwan kwa abisa kwa’i’itin i hita’itin naatu abisa kwanonowar, i hitanowar, baise men hi’itin naatu men hinowar.”
25 Bấy giờ có một chuyên gia luật pháp đứng lên hỏi để thử Chúa Giê-xu, “Thưa thầy, tôi phải làm gì để được sống đời đời?”
25 Ofafar bai’obaiyenayan orot so’obayan ta, Jesu baikubibiruwinamih misir ibatiy eo, “Bai’obaiyenayan, ayu i boro abisa anasinaf ma’ama wanatowan anab?”
26 Chúa Giê-xu đáp, “Trong luật pháp viết như thế nào? Ông đọc gì trong đó?”
26 Jesu iya’afut eo, “Buk Atamaninamaim hikirum inu’in ibiyab hai yabih abisa’awat i’itan?”
27 Ông ta đáp, “Hãy hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà yêu Chúa là Thượng Đế của ngươi” và “Phải yêu người láng giềng như mình.”
27 Orot iya’afut eo, “Regah, a God isan, dogor tutufin etei, ayub tutufin etei, a fair tutufin etei, naatu a not tutufin etei a Regah isan iniyabow, naatu taituwa isah iniyabow, o taiyuw isa kubiyabow na’atube.”
28 Chúa Giê-xu bảo ông, “Ông đáp rất đúng. Hãy làm theo như thế thì sẽ được sống.”
28 Jesu iya’afut eo, “Abisa i’o i tur anababatun i’o, isan imih kwen abisa i’o na’atube kusinaf saise ma’ama wanatowan boro inab.”
29 Nhưng chuyên gia ấy muốn chứng tỏ rằng mình có lý, nên thưa với Chúa Giê-xu “Ai là người láng giềng của tôi?”
29 Baise ofafar bai’obaiyenayan taiyuwin bora’ah na’atube, imih Jesu ibatiy maiye, “Ayu taituwau i iyab?”
30 Chúa Giê-xu đáp, “Có một người đi từ Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, chẳng may rơi vào tay bọn cướp. Chúng nó xé nát quần áo, đánh đập gây thương tích và bỏ anh ta nằm đó, gần chết.
30 Jesu iya’afut eo, “Ana veya ta Jerusalemane orot ta au Jericho re inan basit, sabuw kakafih wanawanah run, hitit ana faifuw hi’oromen hibai hirab hitaiy re imamayay in, ana sawar hibow hibihir hin. Bainowah orot binanawan hirab imamayay inu’in|alt="thieves attacking traveller" src="CN01745B.TIF" size="col" loc="Luk 10.30" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="10.30"
31 Tình cờ có một thầy tế lễ Do-thái đi ngang qua đường ấy. Nhìn thấy nạn nhân, ông liền đi tránh qua phía bên kia đường.
31 Nati veya ta’imon firis ibo Jerusalemane au Jericho re inan basit, orot ef awan inu’in itin, baise ef sisibin raunane yagebageb bihir in.
32 Sau đó có một người Lê-vi đi đến, bước tới gần, nhìn nạn nhân rồi cũng đi tránh qua phía bên kia đường.
32 Levi orot ibo auman nati ef ta’imon re nan orot inu’in itin, naatu ef au waraunane yagebageb in.
33 Cuối cùng, có một người Xa-ma-ri cùng đi đường ấy đến chỗ nạn nhân đang nằm. Trông thấy nạn nhân, ông hết sức tội nghiệp.
33 Baise Samaria orot nati ef ta’imon remor re nan orot inu’in koun yen, naatu nuware i’itin ana veya’amaim ana yababan ra’at.
34 Ông liền đến gần, thoa dầu, bóp rượu trên vết thương, và băng bó lại. Rồi ông đặt nạn nhân lên lưng lừa của mình, đưa đến quán trọ để săn sóc thêm.
34 Basit na orot inu’inumaim tit, biyan feher matahimaim raiy isusuwa’en naatu biyan fiyow sawar, basit bai ana donkey afe’en yara’ah naatu bai hin nanawan bar ta imaim yai ma’uh ma.
35 Hôm sau, người Xa-ma-ri lấy hai quan tiền đưa cho chủ quán và dặn, ‘Ông hãy chăm sóc người nầy. Nếu tốn hơn, khi trở về tôi sẽ trả.’”
35 Hi’in marto ana kaukut eofere kabay rou’ab bai orot bar kaifenayan itin eo, ‘Iti orot inakaif airi kwanama, naatu abisa’awat isan inasisinaf ana matabir anan au tur ina’owen boro anibaiyani.’”
36 Rồi Chúa Giê-xu hỏi, “Trong ba người ấy, ông thấy ai là láng giềng với người bị bọn cướp đánh?”
36 Iti na’at eo sawar basit, Jesu orot ibatiy, “Orot tounu wanawanahimaim orot menatan i taituwan kakafih hirab inu’in isan ana yabow i’inuw?”
37 Chuyên gia luật thưa, “Đó là người tỏ lòng nhân từ với nạn nhân.”
37 Ofafar bai’obaiyenayan Jesu iya’afut eo, “Orot taituwan itin yan baban bibais.” Imaibo Jesu orot iu, “Kwenan nati na’atube kusinaf.”
38 Trong khi Chúa Giê-xu và các môn đệ đi lưu hành, Ngài đến một thành nọ. Có một cô tên Ma-thê mời Ngài vào trọ nhà cô.
38 Jesu ana bai’ufununayah bairi efamaim hiremor hinan basit hina babin wabin Martha ana bar ana meraramaim hitit; hai merar yi buwih ana baremaim hirun.
39 Ma-thê có một em gái tên Ma-ri, hay ngồi dưới chân Chúa Giê-xu để nghe Ngài dạy.
39 Naatu i tain Mary na Jesu nanamaim mare ma, Jesu abisa eo i ma nonowar, Martha bay ebitab, Mary Jesus a namaim ma tur enonowar|alt="Martha cooking Mary sitting at Jesus’ feet" src="CN01750B.TIF" size="col" loc="Luk 10.39" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="10.39-42"
40 Nhưng Ma-thê mải lo bận rộn công việc trong nhà. Cô đến thưa với Ngài, “Thưa Chúa, Ngài không để ý là Ma-ri đẩy hết công việc cho con làm sao? Xin Ngài bảo nó giúp con một tay.”
40 baise Martha bowabow etei akisin bowabow isan yan so’ar na eo, “Regah Mary sawar etei ihamiyen akisu abowabow ku’i’itin i mi’itube kunotanot? Karam boro itau tan tibaisu airi ata bow ai en?”
41 Nhưng Chúa đáp, “Ma-thê ơi, con lo âu và bực dọc nhiều chuyện.
41 Regah iya’afut eo, “Martha, Martha, o i sawar moumurih na’in isah inot a yababan ra’at ya esoso’ar,
42 Chỉ có một điều quan trọng. Ma-ri đã chọn phần tốt hơn, là phần không ai lấy đi được.”
42 baise sawar ta’imon i takokok gagamin. Mary i sawar gewasih rubin, naatu boro men yait biyanamaim nabosairimih.”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Lucas 10, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.