João 9

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Chúa Giê-xu đang đi đường, Ngài thấy một người mù từ lúc mới sinh.
1 Orot matan fim auman tufuw ma’am Jesu remor inan itin.
2 Các môn đệ hỏi Ngài, “Thưa thầy, tại tội lỗi của anh nầy hay của cha mẹ mà anh sinh ra đã bị mù?”
2 Ana bai’ufununayah Jesu hibatiy, “Bai’obaiyenayan, yait ana kakafinamaim iwa’an iti orot matan fim auman tufuw? I taiyuwin ana kakafin o i hinah tamat hai kakafinamaim?”
3 Chúa Giê-xu đáp, “Không phải tại tội của anh hay của cha mẹ mà anh bị mù. Anh bị mù để cho quyền năng của Thượng Đế được bày tỏ trong anh ta.
3 Jesu eo, “Orot matan fim i men anabowabow kakafinamaim iwa’an matan ifimemih o i hinah tamah hai kakafinamaim, baise i ana fimemaim God ana fair iti orot biyanamaim nirerereb hina’itin.
4 Trong khi còn ban ngày, chúng ta phải làm việc của Đấng đã sai ta đến. Đêm xuống thì không ai làm việc được.
4 Iti ana veya’amaim yait ayu iyunu anan i ana bowabow tanabow, gugumin i enan men karam yait ta nabow.
5 Trong khi còn ở trong thế gian ta là ánh sáng của thế gian.”
5 Ayu boun iti tafaramamaim ama’am, ayu i tafaram ana marakaw.”
6 Nói xong Ngài nhổ nước miếng xuống đất trộn thành bùn xức vào mắt người mù.
6 Iti tur eo ufunamaim, Jesu kwei me yan re naatu iyuriyur bai bora’ah orot matan idadawir.
7 Rồi Ngài bảo anh, “Đi đến hồ Xi-lôm rửa đi.” (Xi-lôm có nghĩa là “người được sai đi.”) Anh đi rửa và khi trở về thì mắt thấy được.
7 Naatu iu, “Kwen harew Siloam kukuf (nati wab anayabin iyafar) imaim kururub.” Imih orot in rurub naatu matan nuw sawar itah auman matabir au bar in.
8 Hàng xóm, láng giềng và những người đã thấy anh thường ăn xin mới hỏi, “Đây có phải là người trước kia vẫn ngồi ăn xin không?”
8 Orot tain tuwan naatu sabuw afa marasika hi’i’itin ma fefefeyan, hibatiy, “Iti orot ta’imon mar etei ema efefefeyanaban i iti?”
9 Người thì nói, “Chính hắn chứ ai!” Nhưng kẻ khác bảo, “Không, chắc là một người nào giống hắn thôi.” Anh mù nói, “Chính tôi đây.”
9 Sabuw afa hi’o, “Orot i nati.” Afa hi’o, “En nati i ana yumatabe.”
10 Họ hỏi, “Làm sao mà bây giờ anh thấy được?”
10 Sabuw hibatiy, “Mi’itube o mat igewasin kunuwanuw?”
11 Anh đáp, “Có một ông tên Giê-xu lấy bùn xức vào mắt tôi rồi bảo tôi đi rửa ở hồ Xi-lôm. Tôi đi rửa xong liền thấy đường.”
11 Orot iyafutih eo, “Orot wabin te’o Jesu i yur bai matou idadawir naatu na Siloam harew kukufamaim rurubamih iuwu. Imih ayu an arurub, naatu matou to iwa’an anuwanuw.”
12 Họ hỏi, “Ông ta đâu?”
12 Sabuw hibatiy, “Bo iti orot i menamaim ema’am?”
13 Cho nên họ liền dẫn người trước bị mù đến với các người Pha-ri-xi.
13 Nati orot Jesu biyawas hibai hina Pharisee biyah hitit.
14 Ngày mà Chúa Giê-xu lấy bùn chữa lành anh mù là ngày Sa-bát.
14 Baiyarir ana veya’amaim Jesu nati orot matan fim yuramaim idawir matan igewasin nuw.
15 Các người Pha-ri-xi hỏi anh, “Làm sao anh thấy đường được vậy?”
15 Isan imih Pharisee ibanak maiye orot hibatiy mi’itube matan igewasin. Orot hai tur eowen eo, “I yuramaim matou idadawir uwu harewamaim arurub naatu boun i anuwanuw.”
16 Vài người Pha-ri-xi nói rằng, “Người nầy không phải từ Thượng Đế đến đâu, vì không tôn trọng ngày Sa-bát.”
16 Pharisee afa hi’o, “Iti orot i men Godane na, anayabin Baiyarir ana ofafar i men ekakaif.”
17 Họ hỏi người mù, “Anh nghĩ sao về người đã chữa cho anh được sáng mắt?”
17 Imih Pharisee hitatabir orot ibanak hibatiy maiye, “Iti orot o mata iwa’an bigewasin isan o boro mi’itube inao?”
18 Người Do-thái không tin rằng một người trước kia bị mù mà bây giờ lại thấy đường nên họ cho gọi cha mẹ anh đến.
18 Jew hai ukwarih men kafa’imo hititumatum iti orot matan fim ma’am naatu bounabo matan nuw, naatu orot hinah tamah isah hi’af hina, imaibo hibatiyih.
19 Họ hỏi, “Đây có phải là đứa con mà ông bà nói là bị mù không? Sao bây giờ nó thấy được?”
19 “Iti orot i kwa natu? Kwa kwa’o’o i matan fim auman tutufuw kekeban iti? Naatu boun i mi’itube enuwanuw?”
20 Cha mẹ anh đáp, “Đúng nó là con chúng tôi, nó bị mù từ lúc mới sinh.
20 Hinah tamah hiyafutih hi’o, “Aki aso’ob iti kek i aki natu, naatu matan fim auman tufuw.
21 Nhưng chúng tôi cũng không hiểu tại sao bây giờ nó thấy được hoặc ai đã mở mắt cho nó. Các ông hãy hỏi nó đi vì nó lớn rồi, nó tự trả lời được.”
21 Baise aki men aso’ob, boun i mi’itube enuwanuw, o yait matan iwa’an igewasin, kwaibatiy i sanaman, karam taiyuwin isan boro nao.”
22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Họ vốn đồng ý với nhau rằng, hễ ai xưng nhận Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế, sẽ bị đuổi ra khỏi hội đường.
22 Hinah tamah iti tur hi’o, i Jew sabuw isah hibir, anayabin iti tur i marasika Jew ukwa’ukwarih hi’o hibasit, yait Jesu isan naorereb Keriso nararauw boro kou’ay barene hinabotait ufun nama.
23 Vì thế nên cha mẹ anh mới nói, “Nó lớn rồi, hãy hỏi nó đi.”
23 Iti isan imih i hinah tamah hi’o, “Kwa taiyuw kwaibatiy kwa’itin, i sanaman.”
24 Một lần nữa họ gọi người trước kia bị mù đến bảo, “Anh hãy hứa danh dự trước mặt Thượng Đế là anh sẽ nói sự thật! Chúng ta biết người nầy là kẻ tội lỗi.”
24 Mar bairu’abin orot matan fim nuwanuw isan hi’af na, naatu hibatiy maiye, “Turobe God nanamaim ai tur ina’owen! Aki aso’ob orot yait o biyawasi i bowabow kakafin wairafin.”
25 Anh đáp, “Tôi chẳng biết ông ta có tội hay không. Tôi chỉ biết một điều: Trước đây tôi mù, bây giờ tôi thấy được.”
25 Orot iyafutih eo “Ayu men aso’ob i bowabow kakafin wairafin o en? Ayu sawar ta’imonamo asoso’ob i ayu matou fim ama’am naatu boun i anuw a’i’itah.”
26 Họ hỏi, “Ông ta chữa anh như thế nào? Ông ta làm sao mà anh thấy đường trở lại?”
26 Naatu orot hibatiy, “Abistanawat o isa sinaf? Mi’itube sinaf o mata botawiy?”
27 Anh đáp, “Tôi đã kể cho các ông rồi mà các ông chẳng chịu nghe. Tại sao các ông muốn nghe lần nữa? Hay là các ông cũng muốn làm môn đệ ông ta?”
27 Orot iyafutih eo, “Ayu marasika kwa isa aoka naatu kwa men kwanowar. Aisim kwakokok anao maiye kwananowar? Ta’itin kwa auman kwakokok i ana bai’ufununayah kwanamatar?”
28 Họ mắng anh “Mầy mới là môn đệ của hắn, còn chúng ta là môn đệ của Mô-se.
28 Hi’obaibiyab naatu hi’o, “O i nati orot ana bai’ufununayan, baise aki i Moses ana bai’ufununayah.
29 Chúng ta biết Thượng Đế phán qua Mô-se; còn người nầy thì chúng ta không biết từ đâu đến.”
29 Aki aso’ob God mutufor Moses hairi hi’o, baise orot nati Jesu tibiwab, aki men kafa’imo aso’ob i menane na?”
30 Anh đáp, “Lạ chưa! Một người đã mở mắt cho tôi thấy đường mà các ông bảo là không biết từ đâu đến!
30 Orot matan fim bigewasin iyafutih eo, “Abifofofor men kafaita! I menane nan kwa men kwaso’ob, baise i ayu matu fim iwa’an anuwanuw.
31 Chúng ta biết Thượng Đế không nghe lời kẻ có tội, nhưng nghe lời cầu xin của người thờ kính và vâng lời Ngài.
31 It Taso’ob bowabow kakafih wairafih God hai tur men enonowar. God ana sabuw i ana kok tesisinaf naatu isan tekakakaf i hai tur enonowar.
32 Xưa nay chưa hề có ai nghe người nào mở mắt kẻ mù từ thuở mới sinh.
32 Men yait ta tafaram wanawanan orot matan fim auman tufuw ma’am matan botawiy nuwanuw ana tur nowaramih.
33 Nếu ông nầy chẳng phải từ Thượng Đế đến chắc chắn không làm gì được đâu.”
33 Iti orot men Godane tanan na’at, i boro men karam iti bowabow tasinaf.”
34 Họ đáp, “Mầy sinh ra tội lỗi ngập đầu mà còn dám lên mặt dạy chúng ta à?” Họ liền đuổi anh ta ra.
34 Iti isan hi’o, “O bowabow kakafin wanawanan itufuw ira’at iyey, i boun aki ini’obaiyi!” Naatu kou’ay barene hibotait tit ufun ma.
35 Khi Chúa Giê-xu nghe họ đuổi anh ra, Ngài gặp anh liền hỏi, “Anh có tin nơi Con Người không?”
35 Jesu orot hinun tit ufun ma’am ana tur nowar, naatu titita’ur anamaramaim ibatiy, “O Orot Natun kubitumitum?”
36 Anh đáp, “Thưa ông, Con Người là ai để tôi tin?”
36 Orot Jesu ibatiy, “Regah, iti orot i menatan ku’o anowar saise i anitumitum!”
37 Chúa Giê-xu bảo, “Anh đã gặp Ngài và Con Người là người đang nói chuyện với anh.”
37 Jesu orot isan eo, “Orot i iti kwi’i’itin, boun iti airi kwa’o’o.”
38 Anh kêu lên, “Lạy Chúa, tôi tin.” Rồi liền quì xuống bái lạy Ngài.
38 Naatu orot eo, “Regah, Ayu abitumatum.” Naatu Jesu nanamaim sun yowen kwafir.
39 Chúa Giê-xu nói, “Ta đến để xét xử thế gian. Ta đến để kẻ mù được thấy, còn người thấy lại hóa mù.”
39 Jesu eo, “Ayu ana iti tafaramaim atitit anayabin i sabuw ana kusibih, saise iyab mata fim boro hinanuw, naatu iyab tenuwanuw boro matah fimabe hinamatar.”
40 Mấy người Pha-ri-xi đứng gần đó nghe thế liền hỏi, “Ông nói chúng tôi cũng mù luôn à?”
40 Pharisee afa nati’imaim bairi hima’am iti tur eo’o hinowar, naatu hibatiy, “Nati tur ku’o’o, aki auman matai fim?”
41 Chúa Giê-xu đáp, “Nếu các anh mù thật, thì không có tội gì. Nhưng vì các anh vẫn cho rằng mình thấy, nên tội các anh vẫn còn đó.”
41 Jesu iyafutih eo, “Kwa mata fim na’at, kwa boro men kakafimih. Baise boun kwa kwa’o’o aki matai anuwanuw, kwa a kakafih i tema’am.”

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar João 9, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.