João 6
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Sau đó, Chúa Giê-xu băng qua hồ Ga-li-lê, hồ nầy cũng có tên là Ti-bê-ri-át.
1 Nati ufunamaim ana veya ta, Jesu Galilee harew isobon rabon rewan rounane (wabin ta Taibirias kukuf.)
2 Có rất đông người đi theo Ngài vì họ đã thấy nhiều phép lạ chữa bệnh của Ngài.
2 Naatu sabuw rou’ay gagamin maiyow hi’ufunun hin anayabin sabuw sawusawuwih biyahimaim ina’inan sinaf biyawasih hi’itan isan.
3 Chúa Giê-xu lên một ngọn đồi và ngồi với các môn đệ.
3 Naatu Jesu yen in oyaw sisibinamaim tit naatu ana bai’ufununayah hina biyanamaim himarir hima.
4 Đại lễ Vượt Qua của Do-thái gần đến.
4 Jew sabuw hai Tar Nowaten hiyuw ana veya i na biyubin.
5 Ngài ngẩng lên thấy một đoàn dân đông đi đến, liền hỏi Phi-líp, “Chúng ta phải mua bánh ở đâu để đủ cho chừng nầy người ăn đây?”
5 Jesu nuw ra’at sabuw rou’ay gagamin maiyow isan hinan itih, naatu Philip ibatiy, “Rafiy menamaim boro tanatobon iti sabuw tanituwih?”
6 Ngài hỏi như thế để thử Phi-líp chứ Ngài biết điều Ngài định làm rồi.
6 Iti i Philip fufunin isan ibibatiy, anayabin i ana notamaim so’obaka i boro abistan nasinaf.
7 Phi-líp đáp, “Tất cả chúng ta phải làm việc nguyên cả tháng mới mua đủ bánh cho mỗi người một ít.”
7 Philip iya’afut eo, “Orot ana baiyan sumar eight ana fofonin tatab rafiy tatutubun sabuw ta’ita’imon tatabituwih i kikimin kwanekwan.”
8 Một môn đệ khác của Ngài là Anh-rê, em của Xi-môn Phia-rơ, báo cáo,
8 Imaibo ana bai’ufununayah orot ta, Andrew, Simon Peter tain awan tara’ah eo,
9 “Đây có một cậu bé có năm ổ bánh lúa mạch và hai con cá nhỏ. Nhưng đông thế nầy làm sao cho đủ?”
9 “Kek ta iti’imaim rafiy afu’afusar umat roun naatu siy rou’ab umanamaim hima’am aitin. Baise anotanot boro men nakaram, sabuw i ra’at kwanekwan.”
10 Chúa Giê-xu nói, “Bảo dân chúng ngồi xuống đi.” Nơi đó có nhiều cỏ. Trong số những người ngồi, nếu chỉ tính đàn ông thì có khoảng năm ngàn.
10 Nati’imaim samar gewasin tuw inu’in, imih Jesu eo, “Sabuw kwa’uwih samar yan timarir. naatu sabuw samar yan himarir hima, naatu oro’orotowat hibiyab etei 5,000.
11 Chúa Giê-xu cầm lấy bánh, tạ ơn Thượng Đế và phân phát cho mọi người ngồi đó. Ngài cũng phân phát cá, ai muốn ăn bao nhiêu cũng được.
11 Jesu faraw bai, God ana merar yi, naatu sabuw himarir hima’am faramih, siy bai ef ta’imon sinaf, etei hi’aa yah gadid hai fofonin bai.
12 Sau khi mọi người ăn no nê rồi thì Ngài bảo các môn đệ, “Lượm hết những miếng bánh thừa và cá vụn để khỏi phí phạm.”
12 Naatu hai fofonin baib ufunamaim, Jesu ana bai’ufununayah iuwih eo, “Hi’aa tuturih etei kwaita’ay, men ta kwanihamiy.”
13 Cho nên họ lượm được đầy mười hai giỏ các miếng thừa từ năm ổ bánh lúa mạch.
13 Basit hi’aa tuturih hi’o’on naatu kaifet hibiwanen etei 12, iti i rafiy fafar umat roun naatu siy rou’abamaim sabuw bituwih.
14 Sau khi chứng kiến phép lạ nầy mà Chúa Giê-xu đã làm, thì dân chúng bảo nhau, “Đây đúng là nhà tiên tri phải đến thế gian!”
14 Iti ina’inan Jesu sinaf sabuw hi’i’itin ufunamaim hibusuruf hi’o, “Turobe iti orot i dinabamon, i namih hi’o’oban na tafaramamaim tit.”
15 Chúa Giê-xu biết họ định ép Ngài, tôn làm vua, liền lánh đi vào trong núi một mình.
15 Jesu itih so’ob boro kafa’imo hinan hinab naatu hinau’kikin ni’aiwob, imih i hamenamo nati efan ihamiy naatu akisinamo yen in oyaw wan.
16 Chiều đến, các môn đệ của Chúa Giê-xu đi xuống hồ Ga-li-lê.
16 Veya re birabirab ana bai’ufununayah hire hin harew kukuf hitit,
17 Trời tối rồi mà Ngài vẫn chưa trở lại với các môn đệ. Họ liền lên một chiếc thuyền chèo trở lại bờ bên kia về hướng thành Ca-bê-nâm.
17 Jesu isan hima hikakaif mar bu’u’um, men na biyah tit, imih wa hibai hiboy hirabon au Capernaum.
18 Lúc đó có cơn gió mạnh thổi, làm dậy sóng ào ào trên mặt hồ.
18 Nati ana veya kotar bitufuwan wanawanan hin naatu yabat busuruf ra’at.
19 Chèo được khoảng bốn năm cây số bỗng họ thấy Chúa Giê-xu đi trên mặt nước tiến về phía thuyền. Họ hốt hoảng.
19 Hiboy hitit hire hikuyowen five o six kilometres na’atube hinuwanuw Jesu nahine riy yan bat remor wa isan nan hi’itin yah birubir fafar.
20 Nhưng Ngài trấn an, “Đừng sợ! Ta đây mà!”
20 Baise isah eaf eo, “Ayu o! men kwanabirumih!”
21 Họ liền vui mừng, rước Ngài vào thuyền. Lập tức thuyền cập bờ đúng nơi họ định đến.
21 Imaibo ereyasisir hiu na wa afe’en yen, naatu men yok efan hinot hinanamaim awar hiyut.
22 Hôm sau đoàn dân đã ở bờ hồ bên kia, biết Chúa Giê-xu không có xuống thuyền đi chung với các môn đệ, vì họ ra đi mà không có Ngài đi chung. Hơn nữa, dân chúng biết ở đó chỉ có một chiếc thuyền mà thôi.
22 Marto, sabuw rou’ay nati harew kukuf rounane hima hinunuwabon wa ta’imon nati’imaim batabat hi’inan, naatu hiso’ob Jesu i men nati wa’amaim isra’at bairi hinamih, baise ana bai’ufununayah akisihimo hinan hi’itih.
23 Tuy nhiên, sau đó có các thuyền khác từ hồ Ti-bê-ri-át cập bờ gần nơi dân chúng ăn, sau khi Chúa tạ ơn.
23 Imaibo wa afa Taibiriasine hina efan nati Regah faraw bai igegewasin sabuw bituwih sisibinamaim hirun.
24 Vì thấy Chúa Giê-xu và các môn đệ không có ở đó, nên dân chúng liền lên thuyền chèo qua Ca-bê-nâm tìm Ngài.
24 Naatu sabuw wa afe’en hinunuwatet Jesu ana bai’ufununayah bairi men hi’it fa’arih, matah kabiy wa hibow au Capernaum na’at Jesu hinuwih hin.
25 Khi tìm được Ngài ở bờ hồ bên kia, họ hỏi Ngài, “Thưa thầy, thầy đến đây khi nào?”
25 Jesu harew kukuf rewan rounane ma’am hitita’ur, naatu hibatiy, “Bai’obaiyenayan, biyika ina itit kuma’am?”
26 Chúa Giê-xu đáp, “Ta bảo thật, các ngươi tìm ta chẳng phải vì thấy các phép lạ ta làm mà chỉ vì được ăn no nê.
26 Jesu iyafutih eo, “Anababatun a tur ao’owen, ayu kwanunuwuhu i men ina’inan asisinaf kwa’i’itin isan, baise kwa rafiy kwa’aan ya gagadid isan ayu kwanuwuhu kwanan.
27 Đừng phí sức cho thứ đồ ăn bị hư hỏng, nhưng hãy ra công về thứ đồ ăn còn tốt mãi và dẫn đến sự sống đời đời. Đó là thứ đồ ăn mà Con Người sẽ cho các ngươi vì Thượng Đế, Cha Ngài, đã cho Ngài quyền ấy.”
27 Bay nati eafe’af isan men kwanabowamih, baise ma’ama wanatowan ana bay isan i raro nanababan, nati bay i Orot Natun boro kwa nit. Anayabin God ayu Tamai ana baibasit nati bay roufaramin isan ana fair ayu itu.”
28 Họ hỏi, “Thế thì Thượng Đế muốn chúng tôi làm gì?”
28 Imaibo Jesu hibatiy, “Bo aki boro mi’itube anasinaf saise God abistan eo imaim anasinaf?”
29 Chúa Giê-xu đáp, “Điều Thượng Đế muốn các ngươi làm là tin nhận Đấng Ngài sai đến.”
29 Jesu iyafutih eo, “God ana bowabow bow isan i iti. Orot yait God biyafar i kwanitumitum.
30 Họ hỏi, “Thầy làm phép lạ gì để chúng tôi thấy và tin? Nếu chúng tôi thấy phép lạ thì chúng tôi sẽ tin thầy. Thầy làm được gì?
30 Imih i hibatiy, “Ina’inan fairin menatan boro inasinaf aki ana’itin naatu o anitutumi? O boro abistan inasinaf?
31 Tổ tiên chúng tôi ăn bánh ma-na trong sa mạc như Thánh Kinh ghi, ‘Ông ta cho họ ăn bánh từ trời xuống.’”
31 It ata a’agir arar yanamaim i rafiy wabin manna hi’aa; Buk Atamaninamaim hikirum hi’o’o na’atube, I mar ana rafiy itih hi’aa.”
32 Chúa Giê-xu đáp, “Ta bảo thật, không phải Mô-se cho các ngươi bánh từ trời xuống đâu, nhưng chính Cha ta cho các ngươi bánh thật từ trời xuống.
32 Naatu Jesu hai tur eowen eo, “Anababatun a tur ao’owen, “Iti mar ana rafiy kwa kwa’ani’aan i men Moses kwa itimih, baise ayu Tamai rafiy anababatun marane kwa it.
33 Vì bánh của Thượng Đế là Đấng từ trời xuống, mang nguồn sống đến cho nhân loại.”
33 Anayabin God ana rafiy i orot yait marane rara’iy sabuw etei tafaram wanawanan yawas ebitih.”
34 Họ thưa, “Vậy xin thầy cho chúng tôi bánh ấy luôn luôn!”
34 Sabuw hi’o, “Regah iti rafiy i mar etei initi ana’aan.”
35 Chúa Giê-xu đáp, “Ta là bánh của sự sống. Ai đến cùng ta sẽ chẳng bao giờ đói, ai tin ta sẽ không bao giờ khát.
35 Imaibo Jesu iuwih eo, “Ayu i yawas ana rafiy. Orot Yait ayu isou enan i boro men kafa’imo bayumih namorob, naatu orot yait ayu isou ebitumatum boro men kafa’imo sikan namamahimih.”
36 Như ta đã bảo, các ngươi đã thấy ta rồi nhưng vẫn không chịu tin.
36 Naatu iti tur i ao kwanowaraka naatu mata yan kwa’i’itin baise men kafa’imo kwabitutumu.
37 Ai do Cha ta giao cho ta sẽ đến cùng ta, ta không bao giờ xua đuổi họ.
37 Sabuw iyabowat ayu Tamai bitu boro ayu isou hinan, naatu orot babin yait ayu isou enan boro men ananun ufun natitamih.
38 Vì ta từ trời xuống không phải để làm theo ý ta, mà làm theo ý của Đấng sai ta đến.
38 Anayabin ayu marane arara’iy, i men ayu au kok sinaf isanamih, baise orot yait ayu iyunu anan i ana kok anasinaf.
39 Ý muốn của Đấng đã sai ta đến là ta không được làm mất một người nào mà Ngài đã giao cho, nhưng ta sẽ khiến họ sống lại trong ngày cuối cùng.
39 Naatu orot yait ayu iyunu anan ana kok i iti, sabuw iyabowat ayu bitu etei men ta anikasiy, baise mar yomaninamaim etei’imak anabuwih hinamisir.
40 Đây là ý muốn Cha: Ai nhìn thấy Con và tin Ngài thì được sự sống đời đời. Ta sẽ khiến họ sống lại trong ngày cuối cùng.”
40 Anayabin ayu Tamai ana kok i sabuw iyab matah etei Natun akisin ti’i’itin naatu tibitumitum boro ma’ama wanatowan ana yawas hinab; naatu mar yomaninamaim ayu boro anabuwih hinamisir.
41 Nhưng vì Ngài nói, “Ta là bánh từ trời xuống,” nên dân chúng xầm xì về Ngài.
41 Imaibo Jew sabuw hibusuruf Jesu isan higam, anayabin i eo, “Ayu i mar ana rafiy.
42 Họ bảo nhau, “Ông nầy là Giê-xu, con Giô-xép phải không? Chúng ta biết rõ cha mẹ ông ta, tại sao ông ta dám xưng, ‘Ta từ trời xuống?’”
42 Basit sabuw hi’o, “Iti orot i Jesu, Joseph natun, hinah tamah i taso’ob. Naatu baise boun i eo’o, Ayu i marane ara’iy.”
43 Nhưng Chúa Giê-xu đáp, “Các ngươi đừng xầm xì với nhau làm gì.
43 Jesu iyafutih eo, “Taiyuw men kwanagam.
44 Cha là Đấng đã sai ta đến. Không ai có thể đến với ta nếu Cha không dẫn họ đến; còn ta sẽ khiến người ấy sống lại trong ngày cuối cùng.
44 Sabuw boro men ayu isou hinan kwaneyan, baise Tamai ayu iyunu anan boro nabonawiyih hinan ayu biyau hinatit; naatu mar yomaninamaim ayu boro ana bora’ahih hinamisir.
45 Các nhà tiên tri đã viết, ‘Mọi người sẽ được Thượng Đế dạy bảo.’ Người nào vâng lời Cha và học theo Cha đều đến cùng ta.
45 Dinab oro’orot hikirum hi’o na’atube, ‘Sabuw etei boro God ni’obaiyih. Orot yait Tamai fanan nowar naatu biyanane so’ob ebaib boro ayu isou nan.
46 Chưa hề có ai thấy Cha trừ ra Đấng từ Thượng Đế đến, là đã thấy Ngài mà thôi.
46 Men yait ta Tamai itin; baise orot yait Godane nan i akisinamo Tamai itin.
47 Ta bảo thật, ai tin đều được sống đời đời.
47 Turobe a tur ao’owen, orot yait ebitumatum, yawas wanatowan i baika.
48 Ta là bánh ban sự sống.
48 Ayu i yawas ana rafiy.
49 Tổ tiên các ngươi ăn ma-na trong sa mạc nhưng vẫn chết.
49 Kwa a’a’agir hai veya, rafiy wabin manna arar yanamaim hibow hi’aa, baise etei himorob.
50 Đây là bánh từ trời xuống. Ai ăn bánh nầy sẽ không chết nữa.
50 Baise rafiy iti i marane ra’iy, sabuw iyab hinab hina’ani’aan boro men hina morob.
51 Ta là bánh sống từ trời xuống. Ai ăn bánh nầy sẽ sống mãi. Bánh đó là thịt ta mà ta sẽ cho để thế gian nhờ đó mà sống.”
51 Ayu i yawas ana rafiy, marane hiyafaru are. Orot babin yait iti rafiy na’ani’aan na’at boro nama wanatowan. Iti rafiy i ayu finimu boro anit, saise sabuw boro tafaramamaim yawas hinab hinama.”
52 Thế là người Do-thái bắt đầu cãi nhau rằng, “Người nầy làm sao lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?”
52 Naatu Jew sabuw iti tur hinonowar isan yah so’ar hibusuruf taiyuwih wanawanahimaim higam hikwaris hio, “Iti orot biyan finimin boro mi’itube nitit tana’animih eo?”
53 Chúa Giê-xu nói với họ, “Ta bảo thật, các ngươi phải ăn thịt và uống huyết Con Người, nếu không sẽ chẳng nhận được sự sống trong các ngươi đâu.
53 Jesu iuwih eo, “Turobe a tur ao’owen, Orot Natun biyan finimin men kwana’aan naatu ana rara men kwanatomatom, kwa wanawanamaim yawas men ema’am.
54 Ai ăn thịt ta và uống huyết ta sẽ nhận được sự sống đời đời. Ta sẽ khiến người ấy sống lại trong ngày cuối cùng.
54 Orot yait ayu biyou finimin na’aan naatu au rara natomatom yawas wanatowan i bai, naatu yomaninamaim ayu boro ana bora’ah namisir.
55 Vì thịt ta chính là thức ăn, huyết ta chính là thức uống.
55 Anayabin ayu biyou finimin i bay anababatun naatu au rara i harew anababatun,
56 Ai ăn thịt ta và uống huyết ta thì sống trong ta và ta sống trong người ấy.
56 orot babin yait ayu biyou finimin na’aan naatu au rara natomatom boro wanawana’umaim nama naatu ayu i wanawananamaim anama.
57 Cha Hằng Sống đã sai ta đến và ta sống là nhờ Ngài. Vì thế, ai ăn nuốt ta cũng sẽ sống bởi ta.
57 Tamat yawas ana’an i ayu iyunu ana, anayabin i ema’am isan imih, ayu auman ama’am, ef ta’imonaban orot yait ayu biyau’umaim bai eani’aan boro yawasin nama anayabin ayu ama’am isan imih.
58 Ta không phải như bánh mà tổ tiên các ngươi đã ăn rồi chết. Ta là bánh từ trời xuống, ai ăn bánh nầy sẽ sống mãi.”
58 Iti rafiy marane rara’iy i men kwa a a’agir manna hi’aa hibimumurub na’atube’emih, baise o yait iti rafiy boun marane rara’iy inab ina’ani’aan boro inama wanatowan.”
59 Chúa Giê-xu nói những điều ấy khi đang dạy dỗ trong hội đường ở thành Ca-bê-nâm.
59 Tur iti etei i Capernaum Kou’ay Bar wanawananamaim ma sabuw hai tur eowen i’obaibiyih.
60 Khi các môn đệ Ngài nghe thế thì nhiều người bảo, “Lời dạy nầy thật khó, ai mà nghe được?”
60 Jesu ana bai’ufununayah moumurin na’in tur iti hinonowar hi’o, “Iti bai’obaiyen i fokarin. Yait boro iti tur nanowar nab?”
61 Biết họ đang bàn tán nhau về lời dạy ấy nên Ngài hỏi, “Có phải lời dạy nầy làm các con khó chịu không?
61 Baise Jesu ana bai’ufununayah abisa isan hio higamigam so’ob naatu iuwih eo, “Tur iti kwanonowar imaim kwa a naniyan ebi’afiy?
62 Nếu các con thấy Con Người trở lên nơi xuất xứ của Ngài thì sao?
62 Bo Orot Natun nayen ana efan marasika ma’am imaim nama kwana’itin boro mi’itube kwanao!
63 Chính thần linh cho sự sống, còn xác thịt chẳng ích gì. Những lời ta đã nói cùng các con là thần linh và sự sống.
63 Anun Kakafiyin i yawas ebit biyat i aurin fair en. Iti tur kwa isa a’o i ayub ana tur naatu wanawananamaim i yawas ema’am.
64 Tuy nhiên có vài người trong các con không chịu tin.” Ngài nói vậy vì ngay từ đầu Chúa Giê-xu đã biết trước những ai không tin Ngài và ai là kẻ phản Ngài.
64 Baise kwa afa iti kwama’am i men kwabitumatum. Anayabin iyab men hinabitumatum naatu orot yait baban na’o Jesu so’obaka.”
65 Ngài tiếp, “Chính vì thế mà ta đã bảo các con ‘Chẳng ai có thể đến cùng ta được nếu Thượng Đế không đưa đến.’”
65 Ibanak eo maiye, “Anayabin iti isan kwa au’uwi, orot babin boro men asir ayu isou nan kwaneyanamih, baise Tamai ana baibasitamaim boro niwa’an isah naham hinan ayu isou.”
66 Sau khi Chúa Giê-xu nói thế thì nhiều môn đệ rút lui, không đi theo Ngài nữa.
66 Nati ana veya’amaim ana bai’ufununayah moumurih na’in hihamiy naatu himatabitabir hina’ufut hin.
67 Chúa Giê-xu hỏi mười hai môn đệ, “Còn các con có muốn rút lui không?”
67 Jesu ana bai’ufununayah nah 12 ibatiyih. “Kwa auman kwakokok kwanan?”
68 Xi-môn Phia-rơ thưa, “Thưa Chúa, chúng con biết đến với ai? Chúa có lời của sự sống đời đời.
68 Simon Peter iya’afut eo, “Regah yait isan boro anan? Yawas wanatowan ana tur o akisimo biya ema’am.
69 Chúng con tin và biết rằng thầy là Đấng Thánh mà Thượng Đế sai đến.”
69 Aki abitumatum naatu aso’ob o i Kakafiyin Ta’imon Godane ina.”
70 Chúa Giê-xu tiếp, “Có phải ta chọn tất cả là mười hai người trong các con không? Thế mà một người trong các con là quỉ!”
70 Imaibo Jesu iyafutih eo, “Kwa na 12, i ayu arubini, baise kwa wanawanamaim orot ta i demon mowan.”
71 Ngài muốn nói đến Giu-đa, con của Xi-môn Ít-ca-ri-ốt, là một trong số mười hai người về sau phản Ngài.
71 (Jesu iti tur eo’o i Judas Simon Iscariot natun isan, Judas i bai’ufununayan nah 12 wanawanahimaim orot ta, yomaninamaim i boro Jesu nayanuw namorob.)
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar João 6, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.