João 5

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs ARC

Sair da comparação
ARC Almeida Revista e Corrigida 2009
1 Sau đó, Chúa Giê-xu lên thành Giê-ru-sa-lem để dự một lễ đặc biệt của người Do-thái.
1 Depois disso, havia uma festa entre os judeus, e Jesus subiu a Jerusalém.
2 Ở Giê-ru-sa-lem có một hồ nước với năm vòm cửa có mái che; hồ đó gọi là Bết-xa-tha theo tiếng Do-thái và nằm gần Cổng Chiên.
2 Ora, em Jerusalém há, próximo à Porta das Ovelhas, um tanque, chamado em hebreu Betesda, o qual tem cinco alpendres.
3 Vô số người bệnh nằm la liệt dưới các vòm cửa cạnh hồ. Từ người mù, què cho đến bại xuội.
3 Nestes jazia grande multidão de enfermos: cegos, coxos e paralíticos, esperando o movimento das águas.
4 — ausente —
4 Porquanto um anjo descia em certo tempo ao tanque e agitava a água; e o primeiro que ali descia, depois do movimento da água, sarava de qualquer enfermidade que tivesse.
5 Có một người bị bệnh bại xuội hơn ba mươi tám năm trời đang nằm đó.
5 E estava ali um homem que, havia trinta e oito anos, se achava enfermo.
6 Khi Chúa Giê-xu nhìn thấy thì biết ông đã liệt giường lâu lắm rồi, nên Ngài hỏi, “Ông có muốn lành bệnh không?”
6 E Jesus, vendo este deitado e sabendo que estava neste estado havia muito tempo, disse-lhe: Queres ficar são?
7 Người bệnh đáp, “Thưa ông, tôi chẳng có ai giúp bỏ tôi xuống hồ khi nước động. Lần nào tôi tìm cách xuống hồ là đã có người khác xuống trước rồi.”
7 O enfermo respondeu-lhe: Senhor, não tenho homem algum que, quando a água é agitada, me coloque no tanque; mas, enquanto eu vou, desce outro antes de mim.
8 Chúa Giê-xu liền bảo, “Ông hãy đứng dậy, cuốn chăn chiếu đi.”
8 Jesus disse-lhe: Levanta-te, toma tua cama e anda.
9 Lập tức người bệnh được lành. Ông liền cuốn chăn chiếu lại và bắt đầu bước đi. Chuyện xảy ra nhằm ngày Sa-bát.
9 Logo, aquele homem ficou são, e tomou a sua cama, e partiu. E aquele dia era sábado.
10 Vì thế, các người Do-thái bảo người được chữa lành rằng, “Hôm nay là ngày Sa-bát, anh ôm chăn chiếu đi như thế là phạm luật.”
10 Então, os judeus disseram àquele que tinha sido curado: É sábado, não te é lícito levar a cama.
11 Nhưng anh trả lời, “Người đã chữa tôi lành bảo tôi, ‘Hãy cuốn chăn chiếu mà đi.’”
11 Ele respondeu-lhes: Aquele que me curou, ele próprio disse: Toma a tua cama e anda.
12 Họ hỏi, “Người nào bảo anh cuốn chăn chiếu mà đi?”
12 Perguntaram-lhe, pois: Quem é o homem que te disse: Toma a tua cama e anda?
13 Nhưng người được chữa lành không biết ai vì nơi đó có đông người, còn Chúa Giê-xu đã trà trộn vào đám đông và đi khỏi rồi.
13 E o que fora curado não sabia quem era, porque Jesus se havia retirado, em razão de naquele lugar haver grande multidão.
14 Sau đó Chúa Giê-xu gặp ông trong đền thờ thì Ngài bảo, “Bây giờ ông được lành bệnh rồi; đừng phạm tội nữa, nếu không sẽ có điều tệ hại hơn nữa xảy đến cho ông đó.”
14 Depois, Jesus encontrou-o no templo e disse-lhe: Eis que já estás são; não peques mais, para que te não suceda alguma coisa pior.
15 Ông ta liền đi bảo các người Do-thái rằng Chúa Giê-xu là người đã chữa lành cho mình.
15 E aquele homem foi e anunciou aos judeus que Jesus era o que o curara.
16 Họ liền tìm cách gây sự với Ngài vì Ngài dám chữa bệnh trong ngày Sa-bát.
16 E, por essa causa, os judeus perseguiram Jesus e procuravam matá-lo, porque fazia essas coisas no sábado.
17 Nhưng Chúa Giê-xu bảo họ, “Cha ta luôn luôn làm việc, cho nên ta cũng làm việc.”
17 E Jesus lhes respondeu: Meu Pai trabalha até agora, e eu trabalho
18 Lời ấy khiến các người Do-thái càng kiếm cách giết Ngài. Họ nói “Tên Giê-xu trước đã phạm luật ngày Sa-bát mà bây giờ lại dám gọi Thượng Đế là Cha mình, tự làm ra mình ngang hàng với Trời!”
18 Por isso, pois, os judeus ainda mais procuravam matá-lo, porque não só quebrantava o sábado, mas também dizia que Deus era seu próprio Pai, fazendo-se igual a Deus.
19 Nhưng Chúa Giê-xu bảo họ, “Ta nói thật với các ngươi: Con không tự mình làm điều gì được. Con chỉ làm điều Con thấy Cha làm. Điều gì Cha làm, Con cũng làm giống như thế.
19 Mas Jesus respondeu e disse-lhes: Na verdade, na verdade vos digo que o Filho por si mesmo não pode fazer coisa alguma, se o não vir fazer ao Pai, porque tudo quanto ele faz, o Filho o faz igualmente.
20 Vì Cha yêu Con nên cho Con thấy mọi điều Cha làm. Ngài sẽ còn cho Con thấy nhiều điều lớn hơn thế nầy nữa để các ngươi kinh ngạc.
20 Porque o Pai ama ao Filho e mostra-lhe tudo o que faz; e ele lhe mostrará maiores obras do que estas, para que vos maravilheis.
21 Vì Cha khiến kẻ chết sống lại và ban sự sống cho họ, nên Con cũng sẽ ban sự sống cho kẻ nào Ngài muốn.
21 Pois assim como o Pai ressuscita os mortos e os vivifica, assim também o Filho vivifica aqueles que quer.
22 Thật ra, Cha không xét xử ai nhưng đã giao toàn quyền xét xử cho Con,
22 E também o Pai a ninguém julga, mas deu ao Filho todo o juízo,
23 để mọi người sẽ tôn kính Con như đã tôn kính Cha. Ai không tôn kính Con cũng không tôn kính Cha là Đấng đã sai Con đến.
23 para que todos honrem o Filho, como honram o Pai. Quem não honra o Filho não honra o Pai, que o enviou.
24 Ta bảo thật, ai nghe lời ta và tin Đấng đã sai ta đến, thì được sự sống đời đời. Người đó không bị kết tội, nhưng vượt từ chết qua sống.
24 Na verdade, na verdade vos digo que quem ouve a minha palavra e crê naquele que me enviou tem a vida eterna e não entrará em condenação, mas passou da morte para a vida.
25 Ta bảo thật, đến lúc mà những người chết nghe tiếng Con của Thượng Đế sẽ được sống. Thời kỳ ấy nay đã đến rồi.
25 Em verdade, em verdade vos digo que vem a hora, e agora é, em que os mortos ouvirão a voz do Filho de Deus, e os que a ouvirem viverão.
26 Vì Cha là nguồn sống, nên Ngài khiến cho Con cũng trở nên nguồn sống.
26 Porque, como o Pai tem a vida em si mesmo, assim deu também ao Filho ter a vida em si mesmo.
27 Cha đã giao cho con quyền xét xử, vì Ngài là Con Người.
27 E deu-lhe o poder de exercer o juízo, porque é o Filho do Homem.
28 Đừng ngạc nhiên về điều nầy; đến lúc mọi người chết trong mồ mả sẽ nghe tiếng Ngài.
28 Não vos maravilheis disso, porque vem a hora em que todos os que estão nos sepulcros ouvirão a sua voz.
29 Họ sẽ bước ra khỏi mộ. Ai làm lành sẽ sống dậy để được sống đời đời, còn ai làm ác cũng sẽ sống dậy để chịu kết tội.
29 E os que fizeram o bem sairão para a ressurreição da vida; e os que fizeram o mal, para a ressurreição da condenação.
30 Tự mình ta không thể làm được gì. Ta phán đoán theo điều ta nghe nên sự phán đoán của ta là công bằng. Ta không tìm cách làm vừa lòng mình, nhưng vừa lòng Đấng sai ta đến.
30 Eu não posso de mim mesmo fazer coisa alguma; como ouço, assim julgo, e o meu juízo é justo, porque não busco a minha vontade, mas a vontade do Pai, que me enviou.
31 Nếu ta tự làm chứng về mình thì lời làm chứng ta không giá trị gì.
31 Se eu testifico de mim mesmo, o meu testemunho não é verdadeiro.
32 Nhưng có một người khác làm chứng về ta và ta biết rằng lời chứng của người ấy về ta có giá trị.
32 Há outro que testifica de mim, e sei que o testemunho que ele dá de mim é verdadeiro.
33 Các ngươi đã sai người đến gặp Giăng và ông ta đã cho các ngươi biết sự thật.
33 Vós mandastes a João, e ele deu testemunho da verdade.
34 Không phải ta cần lời chứng của Giăng; ta nói những điều nầy để các ngươi được cứu.
34 Eu, porém, não recebo testemunho de homem, mas digo isso, para que vos salveis.
35 Giăng như một cái đèn cháy sáng, còn các ngươi vui lòng tạm nhận ánh sáng của ông ấy.
35 Ele era a candeia que ardia e alumiava; e vós quisestes alegrar-vos por um pouco de tempo com a sua luz.
36 Nhưng có một lời chứng về ta còn lớn hơn lời chứng của Giăng nữa. Những gì Cha giao cho ta làm chứng tỏ rằng Ngài đã sai ta đến.
36 Mas eu tenho maior testemunho do que o de João, porque as obras que o Pai me deu para realizar, as mesmas obras que eu faço testificam de mim, de que o Pai me enviou.
37 Chính Cha, Đấng đã sai ta đến làm chứng cho ta. Các ngươi chưa nghe tiếng Ngài và chưa hề thấy mặt Ngài.
37 E o Pai, que me enviou, ele mesmo testificou de mim. Vós nunca ouvistes a sua voz, nem vistes o seu parecer;
38 Những lời dạy của Ngài không ở trong lòng các ngươi vì các ngươi không chịu tin Đấng Cha sai đến.
38 e a sua palavra não permanece em vós, porque naquele que ele enviou não credes vós.
39 Các ngươi tra xem Thánh Kinh, vì tin rằng nhờ đó mà các ngươi sẽ được sống đời đời. Chính Thánh Linh làm chứng về ta.
39 Examinais as Escrituras, porque vós cuidais ter nelas a vida eterna, e são elas que de mim testificam.
40 Tuy nhiên các ngươi không chịu đến cùng ta để được sống!
40 E não quereis vir a mim para terdes vida.
41 Ta không cần lời ca tụng của loài người.
41 Eu não recebo glória dos homens,
42 Nhưng ta biết các ngươi chẳng có tình yêu của Thượng Đế trong lòng.
42 mas bem vos conheço, que não tendes em vós o amor de Deus.
43 Ta từ Cha mà đến và nói thay cho Ngài, nhưng các ngươi lại không bằng lòng tiếp nhận ta. Nếu có kẻ khác tự nhân danh mà đến chắc các ngươi sẽ tiếp nhận.
43 Eu vim em nome de meu Pai, e não me aceitais; se outro vier em seu próprio nome, a esse aceitareis.
44 Làm sao các ngươi tin được nếu các ngươi chỉ thích nhận lời ca tụng lẫn nhau mà không hề tìm lời khen ngợi từ Thượng Đế duy nhất?
44 Como podeis vós crer, recebendo honra uns dos outros e não buscando a honra que vem só de Deus?
45 Đừng lầm tưởng rằng ta sẽ tố cáo các ngươi trước mặt Cha. Mô-se, người mà các ngươi đang trông mong, mới chính là người lên án các ngươi.
45 Não cuideis que eu vos hei de acusar para com o Pai. Há um que vos acusa, Moisés, em quem vós esperais.
46 Nếu các ngươi thật tin Mô-se thì chắc hẳn cũng đã tin ta vì Mô-se đã viết về ta.
46 Porque, se vós crêsseis em Moisés, creríeis em mim, porque de mim escreveu ele.
47 Nhưng vì các ngươi không tin điều Mô-se viết, thì làm sao các ngươi tin điều ta nói cho được?”
47 Mas, se não credes nos seus escritos, como crereis nas minhas palavras?

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar João 5, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.