João 3
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Trong nhóm người Pha-ri-xi, có Ni-cô-đem, là một trong những lãnh tụ Do-thái.
1 Jew hai ukwarin orot wabin Nicodemus i Pharisee ana kou’ayamaim orot ta.
2 Ban đêm ông đến thăm Chúa Giê-xu và nói rằng, “Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Thượng Đế phái xuống vì không ai có thể làm được những phép lạ mà thầy đã làm nếu không có Thượng Đế ở cùng.”
2 Guguminamaim na Jesu biyan tit, naatu eo, “Bai’obaiyenayan, aki aso’ob o i bai’obaiyenayan God biyanane ina. Men yait ta karam boro ina’inanen fairih o kusisinafube nasinaf, God men hairi hinama’am na’at.” Jesus Nicodemus hairi bar tafan hima tibidudur|alt="Jesus and Nicodemus" src="CN01670b.tif" size="col" loc="Jhn 3.2" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="3.1-4"
3 Chúa Giê-xu đáp, “Tôi bảo thật: Không ai có thể vào Nước Trời nếu không sinh lại.”
3 Mar ta’imonamo Jesu iya’afut, “Ayu tur anababatun a tur ao’owen, men yait ta boro God ana ma’ama wanatowan na’itin, baise i boro natufuw maiye’ebo.”
4 Ni-cô-đem thắc mắc, “Người già rồi thì làm thế nào mà sinh lại được? Chẳng lẽ trở vào lòng mẹ mà sinh ra lần nữa sao?”
4 “Orot ra’at gagamin na’in ema’am, boro mi’itube natufuw maiye?” Nicodemus ibat. “Men karam hinah yan wanawanan narun mar bairou’abin natufuw maiye!”
5 Chúa Giê-xu đáp, “Tôi bảo thật, không ai có thể vào Nước Trời nếu không sinh bằng nước và Thánh Linh.
5 Jesu iya’afut eo, “Turobe a tur ao’owen, men yait ta boro God ana ma’ama wanatowan narun, baise i harew naatu Anuninamaim natufuw.
6 Sự sống xác thể do con người theo phần thể xác sinh ra, nhưng sự sống thiêng liêng do Thánh Linh sinh ra.
6 Biyat etatoub, i biyat eya’iy, baise Anun Kakafiyin etatoub Anun Kakafiyin iya’iy.
7 Đừng ngạc nhiên về điều tôi nói ‘Mọi người phải sinh lại.’
7 O boro men ita’ororsa’ir ayu tur iti tufuw maiye ao isan.
8 Gió muốn thổi đâu cũng được. Ông nghe tiếng gió nhưng không biết gió từ đâu đến rồi sẽ thổi đi đâu. Ai được sinh bởi Thánh Linh cũng giống như vậy.”
8 Waruw ana kokomaim ebababin. O i nidun kunonowar, baise o men karam boro inao, i menane na enan, o au mena’at babin enan. Imih orot babin anunihine i nati na’atube tetutufuw.”
9 Ni-cô-đem hỏi, “Việc ấy làm thế nào được?”
9 Nicodemus i bat, “Iti i mi’itube?”
10 Chúa Giê-xu đáp, “Ông là giáo sư nổi danh của người Ít-ra-en mà không hiểu những việc ấy sao?
10 Jesu eo, “O i Israel hai bai’obaiyenayan naatu o iti sawar men imanamamih?”
11 Tôi bảo thật: Chúng tôi nói điều mình biết và thuật lại những gì mình thấy, nhưng các ông không chấp nhận những lời chứng của chúng tôi.
11 Jesu iya’afut eo, “Ayu turobe a tur ao’owen, aki abisa asoso’ob i a’o, naatu abisa aki a’i’itin i isan a’o, baise kwa i boro’ika aki ai tur naniyan men kwabaibimih.
12 Tôi nói những việc dưới đất mà các ông còn không chịu tin, huống hồ khi tôi nói đến những việc trên trời thì làm sao các ông tin?
12 Ayu tafaram ana sawar isah ao kwanowar baise kwa men kwabitumatum. Kwa boro mi’itube kwanitumatum ayu mar ana sawar isah ana’o na’at?”
13 Người duy nhất đã từng lên trời là Đấng từ trời xuống. Đó là Con Người.
13 Men yait ta in mar run, baise orot Natun marane nan akisinamo.
14 Xưa kia Mô-se treo con rắn lên trong sa mạc thế nào thì Con Người cũng phải bị treo lên như thế,
14 Moses mi’itube arar yan kok bora’ah na’atube, orot natun hinabora’ah nayen,
15 để ai tin Ngài đều được sự sống đời đời.
15 saise iyabowat i tebitumatum boro ma’ama wanatowan hinab.
16 Vì Thượng Đế quá yêu nhân loại đến nỗi hi sinh Con Một của Ngài, để ai đặt niềm tin vào Con ấy sẽ không bị chết mất nhưng được sống đời đời.
16 God tafaram iyabuw kwanekwan imih i Natun ta’imonamo iyafar na, saise yait i ebitumitum boro men namorob, baise boro yawas wanatowan nab.
17 Thượng Đế sai Con Ngài đến thế gian không phải để kết tội thế gian, nhưng để thế gian nhờ Ngài mà được cứu.
17 God i men tafaram bai’afiyin isan Natun iyafar na tafaramaim titamih, baise tafaram baiyawasin isan na tit.
18 Ai tin nhận Con Trời sẽ không bị kết tội, nhưng ai không chịu tin thì đã bị kết tội rồi, vì không tin nhận Con Một của Thượng Đế.
18 O yait I kubitumitum boro men ina’afemih, baise o yait men ebitumitum i eaf sawar, anayabin i men God Natun Ta’imon, i akisinamo wabin itumitumamih.
19 Họ bị kết tội vì lý do nầy: Ánh sáng đã đến trong thế gian, nhưng họ không thích ánh sáng. Họ lại ưa bóng tối vì việc làm của họ xấu xa.
19 Iti i baib’afiyen. Marakaw na tafaramamaim tit, baise orot marakaw efanin gugumin iyabuw anayabin hai sinaf kakafih.
20 Ai làm ác thì ghét và không thích đến gần ánh sáng vì sợ bị phơi bày việc làm xấu xa của mình.
20 Orot babin etei sinaf kakafih tesisinaf i marakaw hikwahir naatu boro men hinan marakaw wanawanan hinarun, tebirubir hai sinaf boro hinirerereb.
21 Nhưng ai đi theo sự thật thì thích đến với ánh sáng, để ánh sáng bày tỏ rằng việc mình làm là do Thượng Đế hướng dẫn.”
21 Baise yait ta turobe’emaim ema’am marakaw wanatowan erur, saise i ana bowabow God wanawananamaim bowabow boro nirerereb.
22 Sau đó, Chúa Giê-xu cùng môn đệ đi đến miền Giu-đia. Ngài ở đó ít lâu với họ và làm lễ báp-têm.
22 Iti ufunamaim, Jesu ana bai’ufununayah bairi hitit hin Judea tafaram ufunane hirun, nati’imaim mar kikimin hima naatu bapataito itih.
23 Giăng cũng làm báp-têm ở Ê-nôn, gần Xa-lim vì nơi ấy có nhiều nước. Dân chúng kéo đến để chịu lễ báp-têm.
23 Nati’imaim John auman tafaram Aenonamaim sabuw bapataito bitih, Salim i men ef yok i sisibinamaim, anayabin nati’imaim i harew moumurih, naatu sabuw i nan ufun hinan bapataito bain isan.
24 Lúc ấy Giăng chưa bị tù.
24 (Iti John dibur hiyaru’uy ma’am nanamaim.)
25 Vài môn đệ của Giăng cãi nhau với một người Do-thái về nghi lễ tẩy sạch.
25 John ana bai’ufununayah afa naatu Jew sabuw afa wanawanahimaim gamin matar, bapataito ana ofafaren isan.
26 Họ đến báo với Giăng, “Người trước kia ở với thầy phía bên kia sông Giô-đanh mà thầy đã làm chứng cho, hiện nay cũng đang làm lễ báp-têm và ai nấy đều đến với ông ấy!”
26 I hina John biyan hitit naatu hi’o, “Bai’obaiyenayan, orot nati o airi no Jordan harew rounane menatan isan o i’o’orerereb, i boun bapataito sabuw ebitih, naatu sabuw etei i isan tenan.”
27 Giăng đáp, “Chẳng ai nhận được gì mà không phải Trời cho.
27 Nati isan John iya’afut eo, “Orot abistanawat marane tebitin iwat nab.
28 Chính các anh công nhận lời tôi nói, ‘Tôi không phải là Đấng Được Lựa Chọn, mà chỉ là người được sai đến trước để dọn đường cho Ngài mà thôi.’”
28 Kwa taiyuw i karam ayu ao i kwanao’rereb, Ayu i men Keriso, baise ayu i nanamaim hiyafaru ana.
29 Cô dâu thuộc về chú rể; nhưng người bạn giúp đỡ chú rể đứng chờ và lắng nghe, lòng khấp khởi vui mừng khi nghe tiếng chú rể. Hiện tại tôi cũng vui mừng như thế.
29 Babin orot ana rum hi’o ema’am, orot ana of menatan i bai’awaninamih i orot isan ma tainin rub ma ekakaif, naatu i ana rum fanan enonowar ana veya i anababatun ekakawasa. Iti kawasa i ayu nowau, naatu kawasa i boun ana yomanin a’asa’ub.
30 Ngài phải càng trổi hơn, còn tôi phải càng kém đi.
30 I ana fair ra’at natabiru, ayu fair i men ra’at.”
31 “Đấng từ trên xuống cao trọng hơn tất cả. Ai từ đất ra là thuộc về đất, nói những điều thuộc về đất, nhưng Đấng từ trời xuống cao trọng hơn mọi loài.
31 Yeit auyomane nan i ra’at etei natabirih, menatan iti tafaramane nan i tafaram nowan, naatu tafaram ana sawar isah i ebidudur. Menatan marane nan i sawar etei tafahimaim.
32 Ngài nói những điều mình nghe thấy, nhưng không ai chịu tiếp nhận lời làm chứng của Ngài.
32 I abis nonowar, i’itanen i isah eo’orerereb, baise men yait ta ana tur ebaibimih.
33 Nhưng ai tin nhận lời làm chứng của Ngài thì chứng tỏ rằng Thượng Đế là chân thật.
33 Orot yait ta i ana tur nabitumitum na’at, i ebi’obaiyit i ebitumatum God abistan eo’o i turobe.
34 Đấng mà Thượng Đế sai đến nói ra những lời của Thượng Đế vì Thượng Đế ban cho Ngài đầy dẫy Thánh Linh.
34 Menatan God biyafar i God ana tur eo’orerereb; anayabin God i Anun i nowanamih itin anababatun
35 Cha yêu Con nên giao tất cả mọi sự cho Con.
35 Tamah Natun iyabuw kwanekwan naatu sawar etei i ana fair babanamaim ya.
36 Ai tin Con thì được sống đời đời; còn ai không vâng phục Con thì sẽ chẳng có sự sống, trái lại cơn thịnh nộ của Thượng Đế hiện đang đè nặng trên người ấy.”
36 Yait ana baitumatum Natunamaim naya’iy boro yawas wanatowan nab, baise yait ta God Natun nabifutuw boro men yawas nitinimih, God ana yaso’ar tafahimaim nama.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar João 3, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.