João 21
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Sau đó, Chúa Giê-xu hiện ra một lần nữa cho các môn đệ ở bờ hồ Ga-li-lê. Sự việc xảy ra như sau:
1 Iti ufunamaim Jesu ibanak maiye ana bai’ufnunenayah isah irerereb, Taibirias Harew Kukufamaim. Anamatar i iti na’atube matar.
2 Một số môn đệ họp lại, có Xi-môn Phia-rơ, Thô-ma còn gọi là Đi-đim, Na-tha-niên người thành Ca-na miền Ga-li-lê, hai con trai Xê-bê-đê và hai môn đệ khác.
2 Simon Peter, Thomas wabin ta Kikifukek, Nathanael Canna orot, Galilee wanawanan, Zebedee natunatun, naatu bai’ufnunenayah rou’ab auman nati’imaim bairi hima’am.
3 Xi-môn Phia-rơ bảo, “Tôi đi đánh cá đây.”
3 Simon Peter turahinah iuwih, “Ayu anan buwat anaya’amih.” Turahinah hio, “Aki boro bairit tanan.” Imih hitit hin wa hibai buwat ya’amih hin. Baise nati gugumin men siy ta eonamih.
4 Sáng sớm hôm sau, Chúa Giê-xu đứng trên bờ nhưng họ không nhận ra Ngài.
4 Maraumanika Jesu dones yan tit bat, baise bai’ufnunenayah Jesu men hi’inan.
5 Chúa Giê-xu hỏi họ, “Các bạn đánh được con cá nào không?”
5 Jesu isah eafatait eo, “Au ofonah, kwa siy ta kwabai?” Hiya’afut hio, “Eno.”
6 Ngài bảo họ, “Quăng lưới phía bên phải thuyền đi, các bạn sẽ bắt được vài con.” Họ liền quăng lưới xuống nhưng kéo lên không nổi vì quá nhiều cá.
6 Jesu iuwih eo, “A buwat wa sisibin asukwafune kwaya boro siy afa hina’on.” Imih i eo na’atube hisinaf, naatu men karam boro buwat hitabora’ah tayen, anayabin siy buwat etei bai sonan.
7 Môn đệ Chúa Giê-xu yêu bảo Phia-rơ, “Chúa đó!” Khi Phia-rơ nghe vậy liền lấy áo ngoài choàng qua người vì ông đã cởi hết quần áo ra, rồi nhảy ùm xuống nước.
7 Naatu bai’ufnunenayan menatan Jesu biyabuw i Peter isan eo, “No’om Regah wei.” Simon Peter tur Regah nonowar mar ta’imon ana biya baibiyon tafan bosair i kununuw riy yan re.
8 Các môn đệ kia chèo thuyền vào bờ, kéo theo mẻ lưới đầy cá. Lúc ấy họ cũng không xa bờ lắm, chỉ cách khoảng một trăm thước.
8 Bai’ufnunenayah afa hi’ufunun, buwat siy sonan auman hitain hirun. Naatu dones tit in i biyah titit men yok, 100 metres anafofonin.
9 Khi bước ra khỏi thuyền, vừa đặt chân lên bờ thì họ thấy có mấy con cá đang nướng trên than lửa đỏ và ít bánh mì.
9 Hirun wa hiyut hinunura’at wairaf ana waru’umawat dones yan inu’in hi’itin siy naatu rafiy afa auman wairaf wan hi’in hi’a’arat.
10 Chúa Giê-xu bảo họ, “Mang cá các bạn mới đánh lại đây.”
10 Jesu iuwih eo, “Siy iti boun kwabowabow afa kwabow kwana kwaitu.”
11 Xi-môn lên thuyền kéo mẻ lưới đầy một trăm năm mươi ba con cá lớn lên bờ; và mặc dù nhiều cá như thế mà lưới vẫn không đứt.
11 Simon Peter yen wa afe’en bat buwat bai tain na dones rewan yen. Siy gagagamih buwat awan karatan, etei 153, siy moumurih maiyow hi’on baise buwat men takweb.
12 Chúa Giê-xu mời họ, “Các anh em lại đây ăn đi.” Tuy nhiên không một môn đệ nào dám hỏi, “Ông là ai?” vì họ biết đúng là Chúa.
12 Jesu isah eo, “Kwana marauman ana bay taa.” Bai’ufnunenayah men ta not baibatiyin isan, “O i yait?” I hiso’ob nati i Regah.
13 Chúa Giê-xu bước tới lấy bánh và cá mời họ ăn.
13 Jesu na faraw bai naatu itih, siy auman na’atube sinaf.
14 Đây là lần thứ ba Chúa Giê-xu hiện ra cùng các môn đệ, sau khi Ngài từ kẻ chết sống lại.
14 Iti i mar baitaunin Jesu ana bai’ufnunenayah isah irerereb morobone mimisir ufunamaim.
15 Sau khi ăn xong Chúa Giê-xu hỏi Phia-rơ, “Xi-môn con của Giăng, con có yêu ta hơn những người nầy không?”
15 Bay hi’aa sasawar ufunamaim, Jesu Simon Peter isan eo, “Simon John natun, o turobe ayu kubiyabuwu men iti afa tebiyabuwu na’atube?” Simon eo, “Au Regah, o iso’ob ayu o abiyabuwi.” Jesu eo, “Au bowbaituw inituw”
16 Ngài lại hỏi lần nữa, “Xi-môn, con của Giăng, con có yêu ta không?”
16 Jesu ibanak eo maiye, “Simon, John natun o turobe ayu kubiyabuwu?” Simon iya’afut eo,
17 Ngài lại hỏi lần thứ ba, “Xi-môn, con của Giăng, con có yêu ta không?”
17 Jesu mar baitonin Simon isan eo, “Simon John natun, o ayu kubiyabuwu?” Peter iyababan anayabin Jesu mar baitonin ibatiy, “O ayu kubiyabuwu?” Peter eo, “Regah, sawar etei o iso’ob, o iso’ob ayu o abiyabuwi.” Jesu eo, “Au bobaituw inituw.”
18 Ta bảo thật, khi còn trẻ, con tự nai nịt lấy và muốn đi đâu thì đi. Nhưng khi già rồi con sẽ giơ tay ra cho người khác nai nịt và dắt đi đến nơi con không muốn đi.”
18 Turobe a tur ao’owen. “Orot boub ima’am ana veya o taiyuw i’osenweini, naatu menamaim a kok imaim iremor, baise inabiregah anamaramaim o boro uma ina’oftobotobon, sabuw afa boro hini’osweini naatu efan men akok boro imaim hinabonawiyi kwanaremor.”
19 Nói như thế, Chúa ám chỉ Phia-rơ sẽ chết cách nào để làm vinh hiển Thượng Đế. Rồi Ngài bảo Phia-rơ, “Con hãy theo ta!”
19 Jesu tur iti na’atube eo anayabin, i Peter ana morob ef mi’itube boro namorob imaim God wabin nifai nabora’ara’ah. Naatu Peter isan eo, “Kuna kwi’ufnunu.”
20 Phia-rơ quay lại thấy môn đệ mà Chúa Giê-xu yêu đang theo sau. Môn đệ nầy là người nghiêng qua Chúa Giê-xu trong bữa ăn tối để hỏi, “Thưa Chúa, ai là người phản Ngài?”
20 Peter tatabir nuw, naatu bai’ufununayan Jesu biyabuw i bi’ufnunih itin. Iti bai’ufnunenayan i aa fufun ana bay hi’aa Jesu sisibinamaim tugeger eo, “Regah yait boro o nayanuwi?”
21 Khi thấy môn đệ ấy đi phía sau, Phia-rơ liền hỏi Chúa Giê-xu, “Thưa Chúa còn người nầy thì sao?”
21 Peter nuw ayu John i’itu ana maramaim, Jesu ibatiy, “Regah iti orot isan i mi’itube?”
22 Chúa Giê-xu trả lời, “Nếu ta muốn người nầy sống cho đến khi ta trở lại thì không liên quan gì đến con cả. Phần con, hãy theo ta!”
22 Jesu iya’afut eo, “Ayu anakok i yawasin ma ayu matabir maiye anararauw na’at, o isa mi’itube kunotanot? Kwi’ufnunu.”
23 Thế là có tiếng đồn trong vòng các anh em rằng người ấy sẽ không chết. Nhưng Chúa Giê-xu không nói là người ấy sẽ không chết. Ngài chỉ nói, “Nếu ta muốn người ấy sống cho đến khi ta trở lại thì chẳng liên quan gì đến con,” thế thôi.
23 Anayabin iti isan tur tasasar tit bowturah etei hinowar, iti bai’ufnunenayan i boro men namorob. Baise Jesu eo’o i men morob rouw eomih. I tur iti akisinamo eo, “Ayu anakok i yawasin ma ayu matabir isan, nati o i mi’itube kunotanot?”
24 Môn đệ ấy là người làm chứng và ghi lại những chuyện nầy. Chúng ta biết những lời chứng của người là thật.
24 Bai’ufnunenayan iti i boun sawar etei isah eorereb naatu kirumen. It taso’ob i ana eorereb i turobe.
25 Còn rất nhiều việc khác mà Chúa Giê-xu đã làm. Nếu người ta ghi lại từng điều một, thì tôi nghĩ rằng cả thế giới nầy không đủ chỗ chứa hết các sách được viết ra nữa.
25 Jesu sawar moumurih maiyow afa auman sinafen. Sawar etei’imak fefemaim hitakikirum na’at, ayu anotanot iti tafaram tutufin wanawanan boro fef awan takaratan.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar João 21, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.