João 16
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 “Ta bảo những điều nầy để các con đừng mất niềm tin.
1 “Sawar etei’imak i ao kwanowar sawar, saise kwa boro men ef kwanarukasiy.
2 Người ta sẽ đuổi các con ra khỏi các hội đường. Có khi người ta nghĩ rằng giết các con tức là phục vụ Thượng Đế.
2 Jew hai Kou’ay Bar wanawanan boro hinanuni ufun kwanatit, veya nanan anamaramaim o yait ta na’a’asbuni, i boro asir nanot God ana sibor eya’iy narouw.
3 Họ sẽ làm như thế vì họ không biết Cha cũng chẳng biết ta.
3 Sabuw boro kakafin isa hinasinaf, anayabin Tamat men hisu’ub naatu ayu auman men hisu’ubu.
4 Ta nói cho các con biết để đến lúc ấy các con sẽ nhớ rằng ta đã bảo trước cho các con rồi.
4 Ayu kwa a tur ao’owen, saise ana veya nanan kwa boro kwananot ayu i ai’matnuwi sawar, anayabin ayu kwa bairit tama’am isan, men saise a tur aowenamih.
5 Nhưng bây giờ ta đi về cùng Đấng đã sai ta đến và không ai trong các con hỏi rằng ‘Thầy đi đâu?’
5 “Boun ayu amatabir maiye anan, yait ayu iyunu anan i biyan anatit, naatu men yait ta ayu ibatiyu’umih, ‘O menika kwenan’
6 Bây giờ vì ta đã bảo cho các con những điều ấy thì lòng các con đầy buồn bã.
6 Anayabin ayu tur iti ao isan, kwa yababan yen bufuti.
7 Nhưng ta bảo thật: Ta ra đi là ích lợi cho các con. Khi ta đi, Đấng Trợ Giúp sẽ đến. Nếu ta không đi thì Ngài sẽ không đến.
7 Baise turobe a tur ao’owen. Iti i kwa a gewasin isan ayu amamatabir maiye. Ayu men ananan na’at, Baibaisayan boro men nan, baise ayu ananan i boro aniyun nan kwa isa.
8 Khi đến thì Ngài sẽ lên án thế gian về tội lỗi, về sự công chính, và về sự xét xử.
8 I nanan ana maramaim sabuw iti tafaram ana kakafinamaim hima tesisinaf nabotabirih hinan yawas roumutuforen hinab naatu God ana baibabatiyen saise hinaso’ob gewas.
9 Về tội lỗi vì họ không tin ta;
9 sabuw ayu men tebitutumu anayabin i kakafin wanawanan tema’am;
10 về sự công chính vì ta trở về cùng Cha và các con không thấy ta nữa;
10 naatu tenotanot roumutufuren i kakafin terarouw, anayabin ayu anan Tamai biyan, naatu boro men kwana’itu maiye;
11 về sự xét xử vì kẻ cầm quyền trên thế gian nầy đã bị xét xử.
11 naatu baibabatiyen i boro nan, anayabin God marasika iti tafaram ana kaifenayan i ibabatiy sawar.
12 Ta còn nhiều điều muốn nói với các con nữa nhưng hiện tại những điều ấy quá trí hiểu của các con.
12 “Ayu auru tur moumurin maiyow boro atao kwatanowar, baise boun kwa isa ana’o boro men naniyan kwanab.
13 Khi Thánh Linh của chân lý đến, Ngài sẽ đưa các con vào mọi chân lý. Ngài sẽ không nói tự ý mình mà chỉ nói những gì Ngài đã nghe và cho các con biết những điều sẽ đến.
13 Baise anamaramaim turobe ana Anun Kakafiyin nanan, i Boro turobe ana ef etei nabonawiyi. I boro men taiyuwin ana notamaim na’omih, abistanawat enonowar i akisinamo nao, naatu sawar uf hinamamatar isan boro a tur na’owen.
14 Ngài sẽ làm rạng danh ta vì Ngài sẽ nhận những điều của ta mà thông báo cho các con.
14 Ayu boro nabora’ara’ahu, anayabin ayu au tur biyau’une bai na kwa a tur eo’owen isan.
15 Những gì Cha có là của ta. Vì thế mà ta bảo rằng Thánh Linh sẽ nhận những gì của ta phải nói mà thông báo cho các con.
15 Sawar etei ayu Tamai biyan tema’am i ayu nowau naatu abistan ayu biyau ema’am boro Anun Kakafiyin nab nan niwa’an kwa isa nirerereb, anayabin iti isan kwa a tur ao’owen.
16 Ít lâu nữa các con sẽ không thấy ta, rồi ít lâu sau các con sẽ lại gặp ta.”
16 “Mar kikimin kwa boro men ayu kwana’itu naatu mar kafai kikimin kwa boro ayu kwana’itu.
17 Một vài môn đệ hỏi nhau, “Thầy nói. ‘Ít lâu nữa các con sẽ không thấy ta, rồi ít lâu sau các con lại gặp ta’ và ‘Vì ta đi về cùng Cha’ như thế nghĩa là gì?”
17 Ana bai’ufununayah afa taiyuwih hima hibabatiyih? “Anayabin abistan isan i tur iti na’atube eo, ‘Mar kikimin kwa boro men kwana’itu, naatu mar kafai ufunamaim ayu boro kwana’itu’ naatu ‘Anayabin ayu anan Tamai biyan?’
18 Họ lại hỏi nhau, “Thầy nói, ‘Ít lâu nữa’ nghĩa là gì, chúng ta không hiểu.”
18 Naatu i hima hi’o hibabatiyih, Iti anayabin nam abisa isan eo’o, ‘Iti mar kikimin?’ Aki men aso’ob i abistan eo’o.”
19 Chúa Giê-xu biết các môn đệ muốn hỏi, nên Ngài nói, “Ta bảo, ‘Ít lâu nữa các con sẽ không thấy ta, rồi ít lâu sau các con lại thấy ta. Các con hỏi nhau về ý nghĩa câu đó phải không’?
19 Jesu itih so’ob iti isan boro hinibatiy, imih i isah eo, “Ayu iti tur ao isan kwa tayuwiwat kwama kwabibabatiyi anayabin isan, anamaramaim ayu iti na’at ao, ‘Mar kikimin ayu boro men kwana’itu, naatu mar kafai ufunamaim ayu boro kwana’itu.’
20 Ta bảo thật, các con sẽ khóc lóc buồn bã còn thế gian sẽ mừng rỡ. Các con sẽ buồn rầu, nhưng sự buồn rầu của các con sẽ biến ra vui mừng.
20 Ayu anababatun a tur ao’owen, Kwa boro kwanarererey naatu kwanigagamat baise tafaram naben nakawasa. Kwa boro kwaniyababan, baise kwa a yababan boro nabotabir yasisir namatar.
21 Người mẹ sinh con thì bị đau đớn vì đến giờ sinh nở; nhưng khi đứa bé đã lọt lòng thì người đó quên hết nhọc nhằn và vui mừng vì sinh được một em bé trong thế gian.
21 Babin anatoub ana veya nakabom ebiyababan na’atube anayabin biyababan ana veya i na kabom; baise anamaramaim kek tufuw, i ana biyababan inatbuhuruw anayabin kek tafaramamaim tufuw i ebiyasisir.
22 Đối với các con cũng vậy. Hiện nay các con buồn rầu, nhưng ta sẽ gặp lại các con, lúc ấy lòng các con sẽ vui mừng, một niềm vui không ai cướp được.
22 Imih kwa auman. Boun i kwa a veya kwaniyababan, baise ayu boro kwa ana’iti maiye naatu kwaniyasisir naatu men karam yait ta kwa a yasisir biyane nabosair.
23 Vào ngày ấy, các con sẽ không xin ta điều gì. Ta bảo thật, Cha sẽ cho các con bất cứ điều gì các con nhân danh ta mà cầu xin.
23 Nati anamaramaim o men yait ta ayu isou sawaramih inafefeyan. Tur anababatun a tur ao’owen, sawar abistan isan ayu wabu’umaim inabifefeyan, ayu Tamai boro nit.
24 Đến bây giờ các con chưa nhân danh ta mà cầu xin điều gì cả. Hãy cầu xin đi, các con sẽ nhận được, để cho sự vui mừng của các con được toàn vẹn.
24 Marasika na iti boun kwa men yait ta iti na’atube ayu wabu’umaim fefeyanamih. Boun kwanafefeyan, naatu kwa boro kwanab, naatu kwa boro mar etei yasisiramaim kwanama.
25 Ta đã dùng nghĩa bóng để nói với các con những điều nầy. Nhưng ta sẽ không dùng nghĩa bóng nữa mà sẽ nói rõ ràng về Cha với các con.
25 “Ayu mar etei kawen turamaim ao kwanowar sawar, mar i enan ayu boro men kafa’imo kawen turamaim anao, baise ayu Tamai isan i boro mutufor bebeyanamaim anao kwananowar,
26 Vào ngày ấy các con sẽ nhân danh ta mà cầu xin Cha nhưng ta không bảo rằng ta sẽ vì các con mà cầu xin Cha.
26 Nati ana veya’amaim kwa boro ayu wabu’umaim kwanafefeyan. Ayu ao i men kwa au kou anabat Tamai anifefeyanimih.
27 Chính Cha yêu các con. Ngài yêu các con, vì các con yêu ta và tin rằng ta từ Thượng Đế đến.
27 Aiyabin, Tamai i taiyuwin kwa isa ebiyabow, anayabin kwa ayu isou kwabiyabow naatu kwabitumatum ayu i God iyafaru ana.
28 Ta từ Cha đến cùng thế gian; và bây giờ ta rời thế gian để trở về cùng Cha.”
28 Ayu Tamai iyafaru ana, tafaram wanawanan arun abow aremor, boun ayu tafaram abihamiy naatu anan Tamai biyan.
29 Lúc ấy các môn đệ thưa với Ngài, “Bây giờ thầy nói rõ ràng, không dùng nghĩa bóng khó hiểu nữa.
29 Naatu Jesu ana bai’ufununayah hi’o, “Bounabo tur bebeyanamaim ku’o’o naatu men kawenamaim ku’o’omih.
30 Nay chúng con thấy thầy biết hết mọi điều. Thầy có thể trả lời trước khi câu hỏi được đặt ra. Vì thế chúng con tin rằng thầy từ Thượng Đế đến.”
30 Bounabo aki mataito’iwa’an a’i’itin o sawar etei i so’ob, naatu o men yait ta kukokok boro o isa baibat nabow natit. Aki iti’imaim i’obaiyi abitumatum o i Godane ina.”
31 Chúa Giê-xu bảo họ, “Bây giờ các con tin chưa?
31 Jesu iyafutih eo, “Kwa bounabo kwabitumatum?”
32 Các con hãy nghe ta. Các con sẽ bị tản lạc, ai về nhà nấy. Các con sẽ bỏ ta lại một mình nhưng ta không cô đơn đâu vì Cha ở với ta.
32 “Baise veya i enan, naatu na titaka, anamaramaim kwa boro na’abargiyi taiyuw a bar a merar na’at kwanabihir. Ayu boro kwanihamiyu nakutatabu ana bat. Baise ayu men akisu anayabin Tamai ayu airi ama’am.
33 Ta bảo trước những điều ấy để các con được an tâm trong ta. Các con sẽ gặp khốn khổ khi sống trên thế gian. Nhưng hãy can đảm lên! Ta đã chiến thắng thế gian rồi!”
33 “Ayu sawar etei ao kwanowaraka, saise ayu wanawana’umaim kwanama’am kwa karam boro tufuwamaim kwanama. Iti tafaramamaim kwa boro yare wanawanan kwanarun kwani’akir. Baise kwanafair kwanabat! Ayu Tafaram aigegesair.”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar João 16, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.