João 13
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Đại lễ Vượt Qua của dân Do-thái sắp đến, Chúa Giê-xu biết rằng đã đến giờ Ngài phải rời thế gian để trở về cùng Cha. Ngài đã yêu những kẻ thuộc về mình trong thế gian thì cũng sẽ yêu cho đến cùng.
1 Tar Nowaten ana Hiyuw nanamaim. Jesu so’ob i isan veya na kabom iti tafaram nihamiy naatu nan Tamah isan. Sabuw i nowan iti tafaramamaim tema’am isah i yabow men kafaita, naatu bounabo ana yabow yomanin ni’obaiyih nan na’asa’ub.
2 Chúa Giê-xu và các môn đệ đang dùng bữa ăn tối. Ma quỉ đã dụ Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, con Xi-môn để phản bội Ngài.
2 Rabirab ana bay hibusuruf hi’aa’u, naatu demon ana not kakafin Judas Iscariot, Simon natun marasika ana notamaim yaru’uy Jesu baban eo rabin isan.
3 Chúa Giê-xu biết Cha đã giao trọn quyền cho mình. Ngài đã từ Thượng Đế đến và sẽ trở về cùng Thượng Đế.
3 Jesu so’ob Tamah sawar etei i ana fair babanamaim ya, naatu i Godane na naatu God boun isan emamatabir maiye.
4 Nên đang bữa ăn, Ngài đứng dậy khỏi bàn, cởi áo ngoài, lấy khăn quấn ngang hông.
4 Imih bay hi’aa wanawanan misir, ana faifuw tafan iyoun ma’am bosair, naatu biya rarouw bai naiwan fifin.
5 Rồi Ngài đổ nước vào chậu và bắt đầu rửa chân các môn đệ, xong lấy khăn đã quấn ngang hông mà lau.
5 I ufunamaim harew bai tew yan isuwei naatu busuruf ana bai’ufununayah ah souwen, naatu biya rarouw naiwanamaim fifin ma’am bai ah safamen.
6 Khi Ngài đến cùng Xi-môn Phia-rơ thì ông hỏi, “Chúa mà rửa chân cho con sao?”
6 Jesu na Simon Peter biyan titit ana veya, Simon Jesu isan eo, “Regah ayu au inasouwimih?”
7 Chúa Giê-xu đáp, “Hiện nay con chưa hiểu điều ta làm nhưng về sau sẽ hiểu.”
7 Jesu iyafut eo, “Ayu abisa boun asisinaf o boro men inaso’ob, baise boro ufibo inaso’ob.”
8 Phia-rơ khăng khăng từ chối, “Con sẽ không bao giờ để thầy rửa chân con!”
8 Peter eo, “Aiyabin, ayu men abibasit au inasouwen.”
9 Xi-môn Phia-rơ thưa, “Thưa Chúa, nếu thế thì không những rửa chân thôi, sẵn rửa tay và gội đầu luôn đi!”
9 Naatu Simon Peter iyafut eo, “Regah, Men au akisih, baise umou naatu ukwaru auman kwikifuwu.”
10 Chúa Giê-xu bảo, “Ai tắm rồi thì toàn thân được sạch. Chỉ cần rửa chân mà thôi. Các con đã sạch, nhưng không phải tất cả đều sạch đâu.”
10 Jesu iyafut eo, “Orot yait biyan tutufin ekifukif? I an akisinamo tanasouw, i biyan tutufin etei i gewasin. Naatu kwa etei i gewas, baise men etei gewasamih.”
11 Chúa Giê-xu đã biết ai sẽ phản Ngài cho nên Ngài nói, “Không phải tất cả các con đều được sạch.”
11 Jesu so’ob yait boro nayanuw, naatu anayabin iti isan i eo kwa etei i men gewas.
12 Sau khi rửa chân xong cho các môn đệ, Ngài mặc áo lại và trở về bàn ăn. Ngài hỏi, “Các con có hiểu điều ta vừa làm cho các con không?
12 Ah souwen sasawar ufunamaim, ana faifuw bosair yai inu’in bai iyoun naatu matabir maiye ana efan mara’iy. Jesu ibatiyih, “Kwa isa ayu abistan asisinafuban kwaso’ob?”
13 Các con gọi ta là thầy là Chúa rất đúng, vì ta là Chúa.
13 Kwa ayu isou “Bai’obaiyenayan naatu Regah kwarouw kwa’o’o, nati i gewasin maiyow. Anayabin i nati, Ayu i nati na’atube ama’am.
14 Vậy nếu ta là Chúa là thầy mà đã rửa chân cho các con thì các con cũng hãy rửa chân lẫn cho nhau.
14 Boun ayu kwa a Regah, a bai’obaiyenayan a souwen, kwa auman turanah ah kwanasouwen.
15 Vì ta đã nêu cho các con một gương, để các con theo đó mà đối xử với nhau.
15 Ayu bai’obaiyen kwa isa asinaf, kwa isa iti boun asisinaf i na’atube kwanasinaf.
16 Ta bảo thật, kẻ nô lệ không thể lớn hơn chủ mình. Sứ giả cũng không thể lớn hơn người sai mình đi.
16 Ayu turobe a tur ao’owen, akir orot i men ebi’ukwarin ana orot ukwarin isan, o tur abarayan i men orot baiyuninenayan na’atube.
17 Nếu các con biết sự thật ấy và làm theo thì các con sẽ có phúc!
17 Bounabo kwa sawar etei kwaso’ob, kwa iti kwanasisinaf na’at, kwa boro baigegewasin kwanab.
18 Ta không nói về tất cả các con. Ta biết những người ta đã chọn. Nhưng lời Thánh Kinh đã viết phải được thành tựu: ‘Người đã ăn chung bàn ta giơ chân đạp ta.’
18 “Ayu men kwa etei isa ao’omih; ayu iyab arurubiniyih i aso’ob. Baise iti i mi’itube Buk Atamaninamaim hikikirum i tan titurobe. ‘Yait ayu airi rafiy afafaram, i koun ayu itu.’
19 Nay ta bảo cho các con biết chuyện ấy trước khi xảy ra để khi nó đến thì các con sẽ tin ta là Đấng ấy.
19 “Ayu bounaika a tur a’o’owenabo namatar, saise anamaramaim abistan namamatar kwa boro kwanitumatum Ayu i Yait?
20 Ta bảo thật, ai tiếp đón kẻ ta sai tức là tiếp đón ta, còn ai tiếp đón ta tức là tiếp đón Đấng đã sai ta đến.”
20 Turobe a tur ao’owen, yait ayu aiyun en ebaib, nati i Ayu ebubuwu; naatu yait Ayu ebubuwu, nati i yait Ayu iyunu anan i ebaib.”
21 Nói xong thì tâm thần Ngài bối rối. Chúa Giê-xu tuyên bố công khai, “Ta bảo thật, một người trong các con sẽ phản ta.”
21 Jesu iti tur eo’o ufunamaim, dogoron yababan awan karatan naatu eorereb, Turobe kwa a tur ao’owen, kwa wanawanamaim orot ta ayu boro babu nao.
22 Các môn đệ nhìn nhau hoang mang, không hiểu Ngài nói về ai.
22 Ana bai’ufununayah taiyuwih hima hinubunibun, hai kasiy ra’at yait isan eo’o.
23 Một trong những môn đệ, tức người được Ngài yêu, đang ngồi cạnh Ngài.
23 Jesu ana bai’ufnunenayan orot ta i biyabuw, sisibinamaim ma’am.
24 Xi-môn Phia-rơ ra hiệu cho môn đệ ấy hỏi Chúa Giê-xu xem Ngài muốn ám chỉ ai.
24 Simon Peter isan itarasib eo, “Kwaibatiy, ait isan eo’o.”
25 Vì thế môn đệ ấy nghiêng lại gần Chúa Giê-xu và hỏi, “Thưa Chúa, người đó là ai vậy?”
25 Naatu Bai’ufununayan na fufufur Jesu sisibinika tit naatu ibatiy, “Regah yaita?”
26 Chúa Giê-xu đáp, “Ta sẽ nhúng miếng bánh nầy vào dĩa nước chấm. Ta trao cho ai thì đó là người phản ta.” Ngài lấy miếng bánh, nhúng vào nước chấm và trao cho Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, con Xi-môn.
26 Jesu iyafutih eo, “Ayu rafiy anab tew yan anabutu’ub anabitin i orotoban nati.” Anamaramaim rafiy butu’ub, Judas Iscariot, Simon natun itin.
27 Khi Giu-đa vừa nhận miếng bánh xong, Sa-tăng liền nhập vào hắn. Chúa Giê-xu bảo hắn, “Việc anh làm hãy làm mau lên!”
27 Judas rafiy baib ana mar Satan marta’imon dogoron wanawanan run.
28 Nhưng không ai trong những người ngồi ăn hiểu tại sao Ngài nói như thế với Giu-đa.
28 Baise bay hi’aa wanawanan Jesu tur abistan i isan eo’o men yait ta naniyan bai.
29 Vì Giu-đa giữ hộp tiền nên vài môn đệ tưởng Ngài bảo anh ta đi mua đồ cần dùng cho kỳ lễ hoặc đi giúp đỡ người nghèo.
29 Nati ana veya Judas i kabay kakaif, imih Jesu iti tur eo’o i hinot na bay tobon bow na hiyuw isan, o sabuw aurih sawar meyemeye bow na baitih hirouw.
30 Khi Giu-đa nhận miếng bánh xong liền đi ra. Lúc ấy trời sập tối.
30 Nati gugumin wanawanan. Judas faraw bai eani’aan ana veya, i misir ufun tit.
31 Sau khi Giu-đa đi rồi, Chúa Giê-xu nói, “Bây giờ Con Người đã được hiển vinh và Thượng Đế cũng được hiển vinh qua Ngài.
31 Judas ufun titit anamaramaim, Jesu eo, “Sabuw bounabo Orot Natun ana aiwob nab nibirerereb hina’itin. Naatu Jesu wanawananamaim God ana fair natit sabuw hina’itin.
32 Nếu Thượng Đế được hiển vinh qua Ngài thì Thượng Đế sẽ ban vinh hiển cho Con Người qua Ngài, và Ngài sẽ làm điều ấy tức khắc.
32 Naatu God ana fair i wanawananamaim nabirerereb na’at, naatu God taiyuwin Orot Natun biyanamaim boro ana fair saise’ewat niwa’an nirerereb. God Natun akisinamo wanawananamaim boro nifai nabora’ara’ah naatu boro mar ta’imonamo.
33 Các con ơi, ta chỉ còn ở với các con ít lâu nữa thôi. Các con sẽ tìm ta và bây giờ ta nói với các con điều mà ta đã nói với người Do-thái: Các con không thể đến được nơi ta đi.
33 “Natunatu, Ayu boro men manin bairit tanama. Mi’itube Jew sabuw hai tur ao’owen na’atube kwa boun a tur ao’owen. Kwa boro ayu kwananuwuhu. Ayu efan menamaim anan, kwa men karam kwanan.”
34 Ta cho các con một mệnh lệnh mới: Hãy yêu thương nhau. Các con hãy yêu nhau như ta đã yêu các con.
34 “Obaiyunen tur boubun kwa abit. Turanah kwaniyabuwih. Ayu kwa abiyabuw na’atube, turanah bairi kwaniyabowbonen.
35 Nếu các con yêu nhau thì mọi người sẽ biết các con là môn đệ ta.”
35 Kwa turanah bairi kwanabiyabowbonen na’at, sabuw etei boro hinaso’ob kwa i ayu au bai’ufununayah.”
36 Xi-môn Phia-rơ hỏi Ngài, “Thưa Chúa, Chúa đi đâu?”
36 Simon Peter Jesu ibatiy, “Regah, o menika kwenan?”
37 Phia-rơ thắc mắc, “Thưa Chúa, tại sao con không thể theo thầy bây giờ được? Con sẵn sàng chết vì thầy kia mà!”
37 Peter ibat “Regah, aisimamih boun men ani’ufnuni? Ayu au yawas boro o isa anaya’ra’iy.”
38 Chúa Giê-xu đáp, “Con sẵn sàng chết vì ta sao? Ta bảo thật, trước khi gà gáy con sẽ ba lần chối không biết ta.”
38 Naatu Jesu iya’afut eo, “O anababatun ibogaigiwas ayu isou a yawas inayara’iy? Turobe a tur ao’owen, kokorere o’e nanamaim, o boro mar tounu inao inayoubu, ayu orot nati men aso’ob.”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar João 13, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.