João 10

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs ARIB

Sair da comparação
ARIB Almeida Revisada Imprensa Bíblica
1 Chúa Giê-xu dạy, “Ta bảo thật, kẻ nào không vào ràn chiên bằng cổng chính mà trèo vào bằng ngả khác, là phường trộm cướp.
1 Em verdade, em verdade vos digo: quem não entra pela porta no aprisco das ovelhas, mas sobe por outra parte, esse é ladrão e salteador.
2 Còn ai đi vào bằng cổng chính là người chăn chiên.
2 Mas o que entra pela porta é o pastor das ovelhas.
3 Người gác cổng mở cửa cho người chăn. Chiên nghe tiếng người chăn. Người kêu tên từng con chiên của mình rồi dắt chúng ra.
3 A este o porteiro abre; e as ovelhas ouvem a sua voz; e ele chama pelo nome as suas ovelhas, e as conduz para fora.
4 Khi đã đưa chiên ra hết, người chăn đi trước, chiên theo sau, vì chiên quen tiếng người ấy.
4 Depois de conduzir para fora todas as que lhe pertencem, vai adiante delas, e as ovelhas o seguem, porque conhecem a sua voz;
5 Nhưng chiên sẽ không bao giờ theo người lạ. Chúng sẽ chạy trốn vì chiên không nhận ra tiếng người lạ.”
5 mas de modo algum seguirão o estranho, antes fugirão dele, porque não conhecem a voz dos estranhos.
6 Chúa Giê-xu thuật chuyện nầy cho họ nghe nhưng họ không hiểu ý nghĩa là gì.
6 Jesus propôs-lhes esta parábola, mas eles não entenderam o que era que lhes dizia.
7 Chúa Giê-xu lại dạy dỗ nữa, “Ta bảo thật: Ta là cửa của chiên.
7 Tornou, pois, Jesus a dizer-lhes: Em verdade, em verdade vos digo: eu sou a porta das ovelhas.
8 Tất cả những kẻ đến trước ta đều là quân trộm cướp nhưng chiên không nghe chúng nó.
8 Todos quantos vieram antes de mim são ladrões e salteadores; mas as ovelhas não os ouviram.
9 Ta là cái cửa. Ai đi vào qua cửa của ta sẽ được cứu. Người ấy vào ra và gặp đồng cỏ xanh.
9 Eu sou a porta; se alguém entrar a casa; o filho fica entrará e sairá, e achará pastagens.
10 Kẻ trộm chỉ đến để đánh cắp, chém giết và hủy diệt. Nhưng ta đến để cho chiên được sống sung túc.
10 O ladrão não vem senão para roubar, matar e destruir; eu vim para que tenham vida e a tenham em abundância.
11 Ta là người chăn tận tụy. Người chăn tận tụy bằng lòng hi sinh mạng sống vì chiên.
11 Eu sou o bom pastor; o bom pastor dá a sua vida pelas ovelhas.
12 Kẻ chăn thuê khác với người chăn thật vì chiên không phải của nó. Lúc thấy muông sói đến, nó liền bỏ chiên lại và chạy thoát thân. Muông sói cắn xé, làm chiên tản lạc hết.
12 Mas o que é mercenário, e não pastor, de quem não são as ovelhas, vendo vir o lobo, deixa as ovelhas e foge; e o lobo as arrebata e dispersa.
13 Kẻ chăn thuê chỉ là người làm mướn nên không hết lòng lo cho chiên.
13 Ora, o mercenário foge porque é mercenário, e não se importa com as ovelhas.
14 — ausente —
14 Eu sou o bom pastor; conheço as minhas ovelhas, e elas me conhecem,
15 — ausente —
15 assim como o Pai me conhece e eu conheço o Pai; e dou a minha vida pelas ovelhas.
16 Ta còn có những chiên khác không thuộc về bầy nầy. Ta cũng phải tìm dẫn chúng về để chúng cũng nghe tiếng ta, và rồi sẽ chỉ có một bầy chiên và một người chăn mà thôi.
16 Tenho ainda outras ovelhas que não são deste aprisco; a essas também me importa conduzir, e elas ouvirão a minha voz; e haverá um rebanho e um pastor.
17 Cha yêu ta vì ta bằng lòng hi sinh mạng sống mình để ta có thể nhận lại mạng sống ấy.
17 Por isto o Pai me ama, porque dou a minha vida para a retomar.
18 Không ai cướp mạng sống ta được. Ta tình nguyện hi sinh mạng sống mình. Ta có quyền hi sinh mạng sống và có quyền lấy lại. Đó là điều Cha ta bảo ta làm.”
18 Ninguém ma tira de mim, mas eu de mim mesmo a dou; tenho autoridade para a dar, e tenho autoridade para retomá-la. Este mandamento recebi de meu Pai.
19 Vì những lời ấy nên người Do-thái lại bất đồng ý với nhau.
19 Por causa dessas palavras, houve outra dissensão entre os judeus.
20 Nhiều người bảo, “Quỉ ám khiến ông ta điên rồi! Sao mấy anh còn nghe ông ta làm gì?”
20 E muitos deles diziam: Tem demônio, e perdeu o juízo; por que o escutais?
21 Nhưng kẻ khác cãi, “Người bị quỉ ám mà nói được như người nầy à? Quỉ làm sao mở mắt người mù được?”
21 Diziam outros: Essas palavras não são de quem está endemoninhado; pode porventura um demônio abrir os olhos aos cegos?
22 Vào dịp kỷ niệm Lễ Khánh Thành đền thờ được cử hành tại Giê-ru-sa-lem. Lúc ấy nhằm mùa đông.
22 Celebrava-se então em Jerusalém a festa da dedicação. E era inverno.
23 Chúa Giê-xu đang đi tản bộ dưới vòm cửa Sô-lô-môn trong đền thờ,
23 Andava Jesus passeando no templo, no pórtico de Salomão.
24 thì người Do-thái tụ tập quanh Ngài và hỏi rằng, “Thầy để chúng tôi thắc mắc đến bao giờ? Nếu thầy thật là Đấng Cứu Thế xin nói thẳng cho chúng tôi biết.”
24 Rodearam-no, pois, os judeus e lhe perguntavam: Até quando nos deixarás perplexos? Se tu és o Cristo, dize-no-lo abertamente.
25 Chúa Giê-xu đáp, “Ta đã nói với các ngươi rồi mà các ngươi không chịu tin. Những gì ta làm nhân danh Cha đã chứng tỏ ta là ai.
25 Respondeu-lhes Jesus: Já vo-lo disse, e não credes. As obras que eu faço em nome de meu Pai, essas dão testemunho de mim.
26 Nhưng các ngươi không chịu tin, vì các ngươi không phải là chiên của ta.
26 Mas vós não credes, porque não sois das minhas ovelhas.
27 Chiên ta quen tiếng ta, ta biết chiên ta và chúng nó theo ta.
27 As minhas ovelhas ouvem a minha voz, e eu as conheço, e elas me seguem;
28 Ta cho chúng nó sự sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ chết, cũng không ai có thể giật chúng khỏi tay ta.
28 eu lhes dou a vida eterna, e jamais perecerão; e ninguém as arrebatará da minha mão.
29 Cha ta đã cho ta các chiên ấy. Ngài lớn hơn tất cả mọi loài, không ai có thể cướp chúng khỏi tay Cha ta.
29 Meu Pai, que mas deu, é maior do que todos; e ninguém pode arrebatá-las da mão de meu Pai.
30 Ta với Cha là một.”
30 Eu e o Pai somos um.
31 Người Do-thái lại lượm đá để ném Ngài.
31 Os judeus pegaram então outra vez em pedras para o apedrejar.
32 Nhưng Chúa Giê-xu hỏi họ, “Ta đã làm nhiều điều phúc đức từ Cha mà các ngươi đã thấy. Điều phước đức nào khiến các ngươi muốn giết ta?”
32 Disse-lhes Jesus: Muitas obras boas da parte de meu Pai vos tenho mostrado; por qual destas obras ides apedrejar-me?
33 Người Do-thái đáp, “Không phải chúng tôi giết ông vì những việc phúc đức ông làm mà vì ông phạm thượng. Ông chỉ là người mà dám tự cho mình là Trời!”
33 Responderam-lhe os judeus: Não é por nenhuma obra boa que vamos apedrejar-te, mas por blasfêmia; e porque, sendo tu homem, te fazes Deus.
34 Chúa Giê-xu đáp, “Luật Lệ các ngươi có viết rằng, ‘Ta bảo, các ngươi là thần’ kia mà.
34 Tornou-lhes Jesus: Não está escrito na vossa lei: Eu disse: Vós sois deuses?
35 Nếu Thánh Kinh gọi những người nhận lời của Thượng Đế là ‘thần’ và Thánh Kinh bao giờ cũng đúng,
35 Se a lei chamou deuses àqueles a quem a palavra de Deus foi dirigida {e a Escritura não pode ser anulada},
36 thì tại sao các ngươi bảo rằng ta phạm thượng khi ta xưng mình là ‘Con Trời’? Ta là Đấng Cha đã chọn và sai đến thế gian.
36 àquele a quem o Pai santificou, e enviou ao mundo, dizeis vós: Blasfemas; porque eu disse: Sou Filho de Deus?
37 Nếu ta không làm những điều Cha ta làm thì đừng tin ta.
37 Se não faço as obras de meu Pai, não me acrediteis.
38 Nhưng nếu ta làm những điều như Cha ta làm thì dù không tin ta cũng hãy tin những việc làm của ta, để các ngươi biết chắc rằng Cha ta ở trong ta và ta ở trong Cha ta.”
38 Mas se as faço, embora não me creiais a mim, crede nas obras; para que entendais e saibais que o Pai está em mim e eu no Pai.
39 Một lần nữa họ tìm cách bắt Chúa Giê-xu, nhưng Ngài thoát khỏi tay họ.
39 Outra vez, pois, procuravam prendê-lo; mas ele lhes escapou das mãos.
40 Sau đó Ngài trở về cư ngụ phía Đông sông Giô-đanh nơi trước đây Giăng làm lễ báp-têm.
40 E retirou-se de novo para além do Jordão, para o lugar onde João batizava no princípio; e ali ficou.
41 Nhiều người đến cùng Ngài. Họ bảo, “Giăng không làm phép lạ nào, nhưng tất cả những gì Giăng nói về người nầy đều là thật.”
41 Muitos foram ter com ele, e diziam: João, na verdade, não fez sinal algum, mas tudo quanto disse deste homem era verdadeiro.
42 Tại đó có nhiều người tin theo Ngài.
42 E muitos ali creram nele.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar João 10, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.