Judas 1
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Giu-đe, tôi tớ của Chúa Cứu Thế Giê-xu và là anh em của Gia-cơ.
1 Ayu Jude i James airi atufuw, baise Jesu Keriso isan abi’akir. Kwa iyab Tamat God iyabuwi e’afi ana yabowamaim kwama’am naatu Jesu Keriso ana tafafaramaim kwama’am etei isa a fef akikirum.
2 Nguyền xin anh chị em nhận được lòng nhân ái rời rộng, sự bình an và tình yêu thương.
2 Kabeber, tufuw, naatu yabow kwa wanawanamaim wanatowan na’in nasuwa nare.
3 Các bạn thân mến, tôi muốn viết cho các bạn về sự cứu rỗi mà chúng ta cùng san sẻ nhưng tôi thấy cần phải viết cho các bạn về một điều khác: Tôi khuyên các bạn hãy hết lòng chiến đấu cho đức tin mà các con dân thánh của Thượng Đế đã được ban cho một lần đủ cả.
3 Are au ofonah, ayu asinaftobon yawas boubun tafafaram isan atakirum, baise nati efanin ayu dogorou wanawanan i kokok kwanekwan mi’itube akikirum ana’ototofari, saise God mar maumurih efanin mar ta’imon ana sabuw baitumatum bitih, nati baitumatum i kwanafair kwanawasfafar gewas kwanama.
4 Có một vài người đã lẻn vào nhóm của các bạn. Từ xưa các nhà tiên tri đã nói về họ là những người sẽ bị án phạt. Họ chống nghịch Thượng Đế và chuyển ân phúc của Thượng Đế chúng ta ra thành ra cớ để phạm tội nhục dục. Họ cũng từ chối không chịu vâng phục Chúa Cứu Thế Giê-xu là Chủ và Chúa duy nhất của chúng ta.
4 Anayabin sabuw afa God ana ef ufunane tenan i wa’iwa’iramaim hina wanawanat hirun, bai’obaiyen hibotabir te’o, “God i manaw kabeber wairafin imih karam boro tanisesebar kwanekwan, naatu Regah Jesu Keriso ata Bonawiyenayan ta’imon teyayaub.” Iti sabuw i marasika Buk Atamaninamaim isah hi’oka inu’in baimakiy boro hinab.
5 Tôi muốn nhắc các bạn nhớ điều các bạn đã biết: Chúa đã cứu dân Ngài khi giải thoát họ ra khỏi Ai-cập. Nhưng sau đó Ngài diệt những kẻ không tin.
5 Iti sawar etei isah i kwaso’ob, baise akokok nuhi anakusib maiye, Regah ana sabuw Egyptane nawiyih hitit, baise nati ufunamaim sabuw iyab men hibitumatum etei gurusih himorob.
6 Còn về các thiên sứ không chịu giữ địa vị và quyền hành mà rời bỏ chỗ của mình thì Chúa nhốt họ trong nơi tối tăm, xiềng lại đời đời chờ Ngày Xét Xử lớn.
6 Naatu tounamatar iyab hibi’ukwarin hai fair men hikakafiy, baise hai efan nowah anababatun hikwahir hire fatum wanatowan inu’inuwinamaim God fatumih gugumin wanawanan ya hima Baibatebat Ana Veya gagamin tekakaif.
7 Hãy nhớ lại hai thành Xô-đôm và Gô-mô-rơ và các thành chung quanh, giống như các thiên sứ ấy, là những thành đầy ngập tội nhục dục, dân cư chúng nó ham muốn hành dục. Chúng phải chịu trừng phạt trong lửa đời đời để làm gương cho chúng ta.
7 Ef nati ta’imon Sodom Gomorah sabuw naatu bar merar nati sisibinamaim hima’am hai yawas etei baisesebar kwanekwan hitin. Orot taiyuwih naatu baibin taiyuwih hibisesebar kwanekwan isan God wairaf wanatowan iyafar re nati bar merar sabuw etei e’arahih himorob. Naatu nati sawar etei i sabuw bowabow kakafin wairafih hai baimatnuwen.
8 Những kẻ lẻn vào trong đoàn thể anh chị em cũng thế. Họ bị các mộng ước dắt dẫn và làm mình ra nhơ nhuốc vì tội lỗi. Họ gạt bỏ uy quyền Thượng Đế và nhục mạ các thiên sứ vinh hiển.
8 Ef nati ta’imon sabuw mim kwanekwaneyah hai baifuwenamaim biyah hibokarit, God ana aiwob hikwahir, naatu Auyom mar ana sabuw hi’uwih higigimih.
9 Ngay như thiên sứ trưởng Mi-chen khi tranh dành xác Mô-se với ma quỉ cũng không dám sỉ vả nó về tội nhục mạ. Người chỉ nói, “Cầu Chúa trừng phạt ngươi.”
9 Baise tounamatar hai ukwarin Michael, Demon mowan hairi Moses biyan isan higamigam ana maramaim, i men taiyuwin ana fair tafanamaim bat awan fokar demon mowan iu kwanikwaniy baise eo, “Regah boro nakwarar narumutufuri.”
10 Còn bọn nầy thì lại dám mạ lỵ những điều mình không hiểu và những gì mà chúng không nhận biết qua bản năng, như thú vật ngu si không biết lý luận, đó là những điều sẽ tiêu diệt chúng.
10 Iti sabuw tur naniyah men hiso’ob, baise asir hio tibigigim kwanekwan, naatu sawar afa naniyah i hiso’ob baise haru forobe tisisinaf kwanekwan, imih nati sawaramaim boro nagurusih.
11 Số phận chúng nó sẽ khốn đốn. Vì đi theo con đường của Ca-in và vì tham tiền nên chúng phạm tội như Ba-la-am. Chúng chống nghịch Thượng Đế như Co-ra và chắn chắn rồi cũng sẽ bị diệt như Co-ra thôi.
11 Baimakiy boro kakafin anababatun hinab, Cain sisinafumaim ana ef hi’ufunun tenan, naatu kabay isan yah rab. Balam sawar kakafih sisinafube tisisinaf, naatu Korah ana konakon wanawanan hirun higugurusibe boro nagurusih.
12 Chúng giống như những vết dơ trong bữa ăn của anh chị em. Chúng ăn chung với anh chị em, không biết liêm sỉ là gì mà chỉ biết nuôi thân. Chúng nó như mây không chứa mưa, bị gió thổi dạt đi đây đó. Chúng như cây mùa thu chẳng ra trái đúng mùa, bị nhổ bật gốc giống như chết hai lần.
12 Iti sabuw aurih biya’ohow aurih biya’ohow en naatu bir kakaf en, farumayah na’atube a kau’ay wanawanan hirun a’aa atom ana yasisir i teo’of nowah, sakuk aurin toun en ebabin enan na’atube. Naatu maur ana veya ai baiwa’e tekerer tebatabat tiu’uyarir na’atube,
13 Chúng như sóng cuồng trong biển cả, xô đẩy các hành động nhơ nhuốc mình như bọt sóng. Chúng như sao lạc trên bầu trời. Nơi tối tăm nhất đang dành cho chúng nó đời đời.
13 taiyuwih hai biya’ohow ana itinin tor yan yabat erab fus ekubar rougoy erarouw na’atube. Naatu daman hai efan hisa’ir tibibib kwanekwan na’atube, baise nahimaim i gugumin kakafin God isah ya’asair wanatowan inu’in.
14 Ê-nóc, cháu bảy đời của A-đam cũng nói về chúng như sau, “Kìa, Chúa đến với muôn ngàn thiên sứ thánh để
14 Naatu Adam ana rara’ane hitutufuw renan Enoch i Adam ana’agir bai seven tufuw, i sabuw isah eobaimanih eo, “Kwa’itin, Regah ana sabuw kakafiyih maumurih na’in ai rourin na’atube bairi hitit tenan.
15 xét xử mọi người. Ngài đến để trừng phạt mọi người về những điều ác họ làm nghịch lại Thượng Đế và những điều chúng nhục mạ Ngài.”
15 Sabuw etei baibatiyih isan, naatu sabuw iyab God ana ef hisa’ir kakafin tisisinaf kousirih isan, naatu sabuw bowabow kakafih sinafuyah God ana ef hisa’ir tur kakafih hio hibigigim isah.”
16 Bọn nầy phàn nàn chỉ trích người khác, làm ác theo ý mình. Chúng khoe khoang khoác lác và nịnh bợ người khác để lấy lợi về cho mình.
16 Iti sabuw i gamin okwanekwaneyah naatu bai’ubabarenayah, taiyuwih hai yawas kakafih tibi’ufunun. Naatu taiyuwih isah teo’o ra’ara’at, sabuw afa isah awah heaharewan saise i hai ma gewas isan.
17 Các bạn thân mến, hãy nhớ lời các sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu đã dặn,
17 Baise au ofonah, abisa ata Regah Jesu Keriso ana kob abarayah marasika hio kwananowar i kwananuh.
18 “Trong thời kỳ cuối cùng, người ta sẽ nhạo cười Thượng Đế, đi theo những dục vọng xấu xa để chống nghịch Ngài.”
18 Iti na’atube a tur hi’owen hio, “Mar yomanin ana veya, sabuw iyab God ana ef hisa’ir hai naniyan kakafinamaim ebobonawiyih boro hinatit hinao hini’ibi.”
19 Đó là những người chia rẽ anh chị em, tư tưởng bị dục vọng ích kỷ cai trị, trong lòng không có Thánh Linh.
19 Iti sabuw i kausesebayah, hai kok gagamin i tafaram ana yawas kakafih hinasinaf, aurih Anun Kakafiyin en.
20 Nhưng các bạn thân mến, hãy gây dựng lẫn nhau trên đức tin. Hãy nhờ Thánh Linh mà cầu nguyện.
20 Baise kwa, au ofonah, baitumatum kakafiyinamaim nawowabi kwanara’at, naatu Anun Kakafiyinamaim kwanayoyoban.
21 Hãy giữ mình trong tình yêu Thượng Đế trong khi chờ đợi Chúa Cứu Thế Giê-xu ban cho các anh chị em sự sống đời đời qua lòng nhân ái của Ngài.
21 God ana yabow wanawananamaim natafafari kwanama ata Regah Jesu Keriso kwanakaif. I ana kabeberamaim boro yawas wanatowan nit.
22 Hãy tỏ lòng nhân đối với những kẻ đang lưỡng lự.
22 Sabuw iyab hai baitumatum ekwakwaris kwana kabibirih baibais kwanitih.
23 Hãy kéo kẻ khác ra khỏi lửa bỏng để cứu họ. Hãy tỏ lòng nhân cùng niềm lo sợ đối với kẻ khác, gớm ghét cả đến những quần áo ô dơ vì tội của họ.
23 Sabuw afa wairaf wan teyey saisewat wairaf wanane kwanarowen sukwarabih kwaniyawasih. Naatu kwanabir kwanakakaf auman sabuw afa kwaniwanbabanih, baise hai faifuw hi’usi’us karitanin auman men kwana’us.
24 Thượng Đế toàn năng có thể giúp các anh chị em khỏi vấp ngã, cho các anh chị em đứng trước sự hiện diện vinh hiển của Ngài, hoàn toàn không vết dơ, đồng thời ban cho các anh chị em niềm vui tột đỉnh.
24 Imih God ta’imon ata Baiyawasenayan tanabora’ara’ah. I karam kwa boro natafafari a boro men narusukun, naatu a aubar en nabuwi ereyasisir kwanan bonamanamarin gewasin nanamaim kwanatit,
25 Ngài là Thượng Đế duy nhất, Đấng cứu chúng ta. Nguyền vinh hiển, oai nghi, quyền năng, thế lực qua Giê-xu, Chúa Cứu Thế chúng ta từ xa xưa, hiện nay và cho đến đời đời thuộc về Ngài. A-men.
25 Ata Regah Jesu Keriso’one God isan tanaorereb, marakaw, bonamanamarin, fair, onowaten marasika na boun naatu mar etei nama wanatowan, wanatowan. Amen.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Judas 1, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.