Hebreus 6
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Cho nên chúng ta hãy học những điều trưởng thành. Đừng đi trở lại những bài vỡ lòng khi chúng ta mới học về Chúa Cứu Thế. Chúng ta không cần học lại về đức tin nơi Thượng Đế hoặc làm thế nào để tránh khỏi những việc đưa đến cái chết.
1 Isan imih Keriso isan keh gidigidihibe hibi’obaiyit i tanihamiy aunat tanan orot gagamih hai bai’obaiyen hini’obaiyit. It men iban tana’in tabir maiye bowabow kakafih hai bai’obaiyen, God baitutumin,
2 Chúng ta không nên trở về những bài học về lễ báp-têm, về sự đặt tay, về sự sống lại của kẻ chết và về sự trừng phạt đời đời.
2 bapataito, uma yara’aten, morobone misir maiye, naatu wanatowan ana baibatiyen isah iban tanama moron tanan maiye’emih.
3 Và nếu Thượng Đế cho phép, chúng ta sẽ bước lên những bài học trưởng thành.
3 Isan imih aunat tanan! Naatu sawar iti boro tanasinaf, God nakok baibasit nabitit na’at.
4 — ausente —
4 Sabuw iyab baitumatum hikwahir tema’am boro mi’itube tanibaisih dogor baikitabir hinab maiye? Anayabin nati sabuw marasika God ana marakaw hi’itin, mar ana siwar wanawanah run bow, naatu Anun Kakafiyin auman hibai,
5 — ausente —
5 hai bowabowamaim hiso’ob God ana tur i gewasin, naatu mar enan ana fair hiso’ob.
6 — ausente —
6 Baise hai baitumatum hikwahir! Imih bow matabir maiye dogoroh baikitabirin isan i fokar. Anayabin nati sabuw i God Natun onaf afe’en hi’onaf maiye naatu bebeyanamaim biya’ohow tibitin.
7 Còn có người giống như đất thấm nhuần mưa, sinh ra mùa màng tốt đẹp cho người trồng trọt và nhận ân phúc Thượng Đế.
7 Gagub matan fufur eyar me etututub ana veya, ub i gewasih tikuboubunih teyey, naatu orot yait ekakaifen boro God ana baigegewasin nab.
8 Kẻ khác giống như đất mọc đầy chông gai và cỏ dại, hoàn toàn vô dụng. Đất ấy bị Thượng Đế nguyền rủa và sẽ bị lửa tiêu hủy.
8 Baise kokor naatu ihitutu nati’imaim namamare na’at, sawar etei boro hina’af. Nati ana’itin i God eoraraf, imih ana yomaninamaim boro wairaf wan hinaya hina’afusar.
9 Các anh chị em thân mến, chúng tôi nói với các anh chị em như thế nhưng thật tình chúng tôi mong anh chị em làm nhiều điều tốt hơn nữa là những điều dẫn anh chị em đến sự cứu rỗi.
9 Taitu au yabow, tur iti ao i men kwa auman akabari ao’omih, anayabin aki abitumatum, kwa i ayawas kwabaika, naatu boun nati yawasamaim ebobonawiyi.
10 Thượng Đế rất công bằng; Ngài không quên công khó của anh chị em và tình yêu anh chị em tỏ ra với Ngài khi giúp đỡ dân Ngài. Ngài nhớ rằng anh chị em vẫn đang giúp họ.
10 Anayabin God i foun ana orot, abisa isan kwasisinaf, o yabow kwaitin ana sabuw kwabibaisih, naatu boro’ika kwama ana sabuw kwabibaisih isan boro men ninat buhuruwimih.
11 Chúng tôi muốn mỗi người trong anh chị em tiếp tục chịu khó suốt đời để chắc chắn nhận lãnh điều mình trông mong.
11 Naatu aki ai kok gagamin i kwa ta’ita’imon etei kwana’abar totofar turobe’emaim kwanabow kwanan yomanin kwanatit. Saise sawar abisa isan nuhifot kwama kwabowabow boro niturobe.
12 Chúng tôi không muốn anh chị em biếng nhác. Hãy noi gương những người đã nhận được điều Thượng Đế hứa vì họ có đức tin và lòng nhẫn nhục.
12 Aki men akokok kwananokow, baise a kokok baitumatumayah naatu yateh nuban hibatkikin hin abisa God eo’omatanih hibaib i kwani’u’urih.
13 Khi lập lời hứa với Áp-ra-ham, vì không có Đấng nào lớn hơn nên Thượng Đế chỉ chính mình mà thề cùng Áp-ra-ham
13 God Abraham eo’omatan ana veya, men yait ta wabinamaim eo baifaro’omih, baise i taiyuwin isan ana omatanen yai eobaifaro, anayabin bi yait ta gagamin ma’am boro isan tao baifaro.
14 rằng, “Ta chắc chắn sẽ ban phúc cho ngươi và cho ngươi có con cháu đông vô số.”
14 God Abraham isan eo, “Ayu ao’omatani baigegewasin boro anit naatu warar gagamin na’in boro anit.”
15 Áp-ra-ham kiên nhẫn chờ đợi điều ấy và nhận được điều Thượng Đế đã hứa.
15 Abraham yatenub ma kakaif ufunamaim, God abisa Abraham eo’omatan itin.
16 Người ta thường chỉ Đấng lớn hơn mình khi thề thốt. Lời thề cam đoan rằng điều mình nói là thật, để không còn tranh biện nữa.
16 Sabuw baifaro’omih boro orot ta gagamin wabinamaim hinao baifaro, saise abisa hio boro hinasinaf.
17 Thượng Đế cũng muốn chứng tỏ rằng lời hứa của Ngài là thật cho những kẻ sẽ nhận. Ngài muốn họ hiểu rõ mục đích bất biến của Ngài nên Ngài thề.
17 God abisa baitit isan eo’omatanit, boro men nihamiy, abisa sinafumih eo boro nasinaf. Anayabin bebeyanamaim eo baifaro ana omatanen yai.
18 Cho nên khi Ngài hứa và thề thì hai điều ấy không thể thay đổi được. Hai điều ấy thúc giục chúng ta đến với sự che chở của Thượng Đế và giúp chúng ta mạnh dạn nắm chắc hi vọng đã cho chúng ta.
18 Imih sawar rou’ab tana’itah, o baifaro naatu omatanen, iti sawar rou’ab boro men nabotabir God baifuwenayan namataramih. En. Imih it iyab wanawananamaim tarun tarafafar gewasin tabaib boro koufair tanab, naatu abisa natamaim hiyai inu’in isan boro tanabukikin nuhit nafot tanama.
19 Chúng ta có hi vọng nầy như cái neo vững chắc cho linh hồn. Hi vọng ấy đi vào phía sau bức màn của Nơi Chí Thánh trên thiên đàng,
19 Imih it ata nuhifot imaim tanabukikin ata yawas isan ni’aumor tanama. Naatu Jesu mar ana Tafaror Bar wanawanan kakafiyin anababatun ana faifuw rura’ah rur isan nuhit nafot tanama.
20 chỗ Chúa Giê-xu đã đi trước chúng ta. Ngài đã trở thành thầy tế lễ đời đời giống như Mên-chi-xê-đéc.
20 Anayabin it baibasit isan Keriso aunat i’iyon in maramaim run God nanamaim Firis Gagamin matar wanatowan ebatabat, Melkisedek firis ma’am na’atube.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Hebreus 6, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.