Hebreus 12
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Những người ấy vây quanh chúng ta và chứng minh ý nghĩa của đức tin qua đời sống họ. Cho nên chúng ta hãy tham dự cuộc chạy đua trước mặt chúng ta, đừng bỏ cuộc. Chúng ta hãy dẹp bỏ khỏi đời sống những chướng ngại vật và tội lỗi dễ trì kéo chúng ta lại.
1 Isan imih it i sabuw maramaim kau’ay gagamin na’in sisibit roun roun hi’ar bebera’uh hibat hi’itit tanununuw. Imih sawar kakafih erorowen tanit tanisrouwen naatu bowabow kakafihine fatumit tama’am tanarufamit tanatit, nunuwamih hi’u’uwit saise tanitarfofor tananunuw gewas.
2 Chỉ nhìn xem Chúa Giê-xu, Đấng khởi đầu và làm toàn thiện đức tin chúng ta. Ngài chịu chết trên cây thập tự. Ngài chấp nhận và xem thường sự sỉ nhục vì nhắm vào niềm vui Thượng Đế đã đặt trước mặt mình. Hiện nay Ngài đang ngồi bên phải ngôi Thượng Đế.
2 Matat etei Jesu tana’itin, ata baitumatum an naatu yomanin, sabuw hibai onaf afe’en hi’onaf hibi’i’iyab, men biyan eohow. Anayabin yasisir nanamaim ma’am i so’ob, imih wainab in yomaninamaim yen God ana asukwafune mare bonamanamarinamaim ema’am.
3 Hãy nhìn gương Chúa Giê-xu là Đấng chịu đựng những sự ngược đãi của kẻ có tội để chúng ta không mỏi mệt và chán nản.
3 Sabuw kakafih wanawanahimaim wawainab i kwananot, isan imih kwa men kwanahahar naatu gubam nahuriramih.
4 Anh chị em đang chiến đấu chống tội lỗi nhưng những cuộc chiến đấu ấy chưa khiến anh chị em phải thiệt mạng.
4 Anayabin bowabow kakafih bairi kwabiyow ana veya kwa men yait hi’asbuni imorobomih.
5 Anh chị em đã quên lời giục giã kêu gọi anh chị em là con:
5 Buk Atamaninamaim God kwa i natunatun rouw koufair tur bit kwanotanot? Iti na’atube eo,
6 Vì Chúa sửa trị kẻ Ngài yêu,
6 Anayabin Regah orot babin iyab isah ebiyabow boro baikwatutunen nitih, naatu orot babin iyab i natunatunamih ebowabow boro baimakiy nitih.”
7 Cho nên khi chịu khổ hãy bền lòng vì những điều ấy chẳng khác nào sự sửa trị của người cha. Thượng Đế xem anh chị em như con cái Ngài. Con nào mà không bị cha răn dạy?
7 Biyababan fokarih wanawanan kwana fair nawainabi nati i kwa a baikwatutunen na’atube, anayabin kwa i natunatun imih ebi’obaiyi. It tamatanah baikwatutunen titit tibi’obaiyit i kwaso’ob.
8 Nếu anh chị em không bao giờ bị cha sửa dạy thì anh chị em chưa phải là con thật, không thuộc gia đình Thượng Đế.
8 God natunatun etei baikwatutunen ebitih, naatu o baikwatutunen men inabaib na’at, nati ana itinin o i men natun anababatun. O i tamat en, ometakek.
9 Tất cả chúng ta đều có cha trên đất nầy sửa dạy chúng ta. Chúng ta kính sợ cha mình. Chúng ta lại càng phải chấp nhận kỷ luật của Cha về phần tâm linh để được sự sống.
9 Kek ana veya, tamatanah baikwatutunen hibitit i taso’ob, naatu takakafiyih. Imih Tamat maramaim baikwatutunen nabitit ana maramaim tanakakafiy gewas, saise boro ma’ama wanatowanamaim tanama.
10 Cha trên đất sửa trị chúng ta trong một thời gian ngắn theo cách mà người cha cho là tốt nhất. Nhưng sự sửa trị của Thượng Đế là để giúp chúng ta trở nên thánh thiện như Ngài.
10 Tamatanah baikwatutunen titit tibi’obaiyit, nati i it ata ma gewasin isan. Baise God baikwatutunen ebitit i turobe naatu gewasin, anayabin i ekokok, i ana kakafiyin bairi tanafaram.
11 Lúc đang bị sửa trị thì chúng ta không thích vì đau đớn, nhưng về sau, khi đã học được ý nghĩa của sự sửa trị ấy rồi, thì chúng ta sẽ được bình an vì bắt đầu sống phải cách.
11 Baikwatutunen tabaib ana veya’amaim biyat i ebababan tarererey naatu men tabiyasisir. Baise biyababan ufunamaim sabuw iyab baikwatutunen hibai hibi’akir hai yawas boro namutufor yasisiramaim hinama gewas.
12 Anh chị em đã trở nên yếu đuối, hãy làm mình thêm mạnh trở lại.
12 Isan imih kwanunuw uma tehahahar kwana’awanfairen, naatu a hiririm ra’iyemih kwabiwa’an kwanabat gewas.
13 Hãy sống cho phải cách để được cứu và để cho sự yếu đuối anh chị em không khiến mình bị chết mất.
13 A i namutufor efatut kwanan, saise sabuw afa ah umah ririmih naatu kiyatabirih kwa hi’ufnuni tenan boro men hinawasdidir hinare, baise kwane i boro hai fair hinab maiye hini’ufnuni.
14 Hãy sống cuộc đời thanh sạch và hòa thuận với mọi người. Chẳng ai có thể thấy Chúa được nếu đời sống không thánh thiện.
14 Kwanasinaftobon taituwa bairi tufuwamaim kwanama, naatu kwanayasairi kakafiyinamaim kwanama. Anayabin orot yait ana yawas men ya’asair kakafiyinamaim ema’am Regah ana yumat boro men na’itin.
15 Hãy thận trọng vì e rằng có người không nhận được ân phúc của Thượng Đế. Đừng ai trở thành nguyên nhân gây rối giữa vòng anh chị em. Một người như thế có thể làm hư hỏng nhiều người trong anh chị em.
15 Mata toniwa’an gewas, men yait ta God ana manaw ana kabeberane namatabiramih. Kwana’itin gewas men yait ta kwa wanawanamaim ihitutu na’atube ub nakufaifaiy, naatu ana fafa’amaim sawar etei hinakokoramih.
16 Hãy thận trọng, đừng ai phạm tội nhục dục, hoặc như Ê-sau là người không bao giờ nghĩ đến Thượng Đế. Với địa vị con trưởng, đáng lý ra Ê-sau được hưởng trọn tài sản của cha mình, nhưng chỉ vì một bữa ăn mà ông bán hết mọi thứ.
16 Kwana’itin gewas men yait ta na’in nisesebar kwanekwanemih, o Esau sisinaf na’atube nasinaf koun God nitinimih. Anayabin Esau bay tew ta’imonamaim kek ai’in hai onowaten sawar tutufin etei bora’ah tain itin.
17 Anh chị em còn nhớ là sau khi Ê-sau làm như thế, ông muốn cha mình chúc phước nhưng bị cha từ chối. Ê-sau hối hận thì đã quá trễ mặc dù ông ao ước phúc lành đó đến nỗi phát khóc.
17 Naatu sawar abisa uf himamatar i kwaso’ob, Esau tamah ana baigegewasin isan erererey auman bifefeyan tamah rutawiy. Anayabin abisa marasika sisinaf men dogor baikitabir bai.
18 Anh chị em chưa đến gần hòn núi có thể rờ được và đang bốc cháy, hoặc đến chỗ tăm tối, buồn bã và giông bão.
18 Kwa i men kwana oyaw an kwatit Israel sabuw sawar hi’i’itin na’atube kwa’itinimih. Anayabin Israel sabuw hina oyaw Sinai anamaim hititit ana veya wairaf in bitakir hi’itin, gugumin kakafin anababatun hi’itin, wowog gagamin maiyow re’er hi’itin. Naatu nidun hinonowar i
19 Anh chị em chưa đến gần tiếng kèn thổi hoặc tiếng nói mà dân Ít-ra-en nghe và nài nỉ xin đừng nghe thêm tiếng nào nữa.
19 tour nidun hinowar, naatu orot fanan hinonowar ana veya yah birubir fafar Moses hi’u, “Orot ku’otan aki men akokok tur ta nao maiye ananowar.”
20 Họ không muốn nghe lệnh cấm: “Bất cứ vật gì dù là súc vật đi nữa, đụng đến núi sẽ bị ném đá chết.”
20 Anayabin God ana ofafar tur fokarin iti na’atube eo isan i hibir, “Bobaituw ta nan iti oyaw sisibinamaim natit nabubutubun na’at kabayamaim kwanarab namorob.”
21 Điều mắt họ thấy, kinh hoàng đến nỗi Mô-se thú nhận, “Ta hết sức run sợ.”
21 Abisa matahimaim hi’i’itin i hai bir ra’at, Moses auman ana bir ra’at eo, “Ayu iti sawar aitin abir au umau teo’oror.”
22 Nhưng anh chị em đã đến gần núi Xi-ôn, thành của Thượng Đế hằng sống, Giê-ru-sa-lem trên trời. Anh chị em đã đến nơi hàng ngàn thiên sứ hân hoan nhóm họp.
22 Baise boun kwa i kwana oyaw wabin Zion imaim kwatit, God wanatowan ma’ama’anin ana bar ana merar, mar ana Jerusalem, tounamatar kou’ay gagamin na’in dones na’atube tibiyasisir wanawanah kwarun bairi kwabiyasisir.
23 Anh chị em đã đến nơi gặp gỡ của các con đầu lòng của Thượng Đế được ghi tên trên thiên đàng. Anh chị em đã đến cùng Thượng Đế, quan án của mọi người, và đến cùng các thần linh của những người tốt đã trở nên toàn thiện.
23 Kwa i kwana God natunatun ai’in hai yasisir wanawanan kwarun, natunatun wabih maramaim hikikirum, kwa i kwana sabuw etei hai baibatiyenayan ana God biyan kwanatit. Naatu sabuw gewasih ayubih kouksouwen hibaika tema’am biyah kwatit.
24 Anh chị em đã đến cùng Chúa Giê-xu, Đấng mang giao ước từ Thượng Đế đến cho dân Ngài, và anh chị em đã đến cùng huyết rưới ra, huyết mang theo một ý nghĩa tốt hơn huyết A-bên.
24 Kwana Jesu obaibasit boubun ana foun batayan biyan kwatit naatu rara boubun suware’er i igewasin kwanekwan men Abel ana rara na’atube.
25 Cho nên hãy thận trọng, đừng bỏ ngoài tai lời Thượng Đế phán. Những kẻ khác không chịu nghe lời Ngài thì Ngài đã cảnh cáo họ trên đất, họ không thoát khỏi trừng phạt. Cho nên nếu chúng ta không nghe lời Ngài khi Ngài cảnh cáo chúng ta từ thiên đàng thì số phận chúng ta còn bi đát đến thế nào nữa.
25 Kwana’itin gewas God abisa boun eo kwananowar, men kwanakwahir. Anayabin sabuw iyab marasika oyaw anamaim Moses eo hinowar fanan hisasair i baimakiy men kafa’imo hihaiwimih. Naatu boun God fanan i mutufor marane re eo tanonowar, baise kwanitafasar fanan kwanasasair na’at, kwa i kwamorob sawar. Baimakiy kakafin anababatun boro men karam kwanahaiw!
26 Trước kia khi Ngài phán, tiếng phán Ngài làm rung chuyển đất. Nay thì Ngài hứa, “Một lần nữa ta sẽ không những làm rung chuyển đất mà còn rung chuyển cả trời nữa.”
26 Oyaw Sinai anamaim i fananawat eo, me etei i’uruyuy, baise boun it ata veya’amaim ana omatanen hikirum inu’in na’atube boro namatar, “Veya ta boro men me akisin aniyuwiyuw, baise mar tafaram etei boro aniyuwiyuw.”
27 Từ ngữ, “một lần nữa” cho chúng ta thấy những gì được dựng nên—tức những vật có thể bị rung chuyển—đều sẽ bị tiêu hủy. Chỉ những gì không bị rung chuyển mới còn lại thôi.
27 Tur mar ta’imon i bebeyan i’obaiyit taitin, God umanamaim abisa eo himatar tema’am boro etei niyuwiyuw hai efan hinasa’iren. Baise sawar abisa wanatowan ma’amih bimataren boro hai efanika hinama.
28 Cho nên chúng ta hãy cảm tạ vì chúng ta có một quốc gia vững bền, không lay chuyển. Chúng ta hãy lấy lòng kính sợ mà thờ phụng Thượng Đế cho đẹp lòng Ngài,
28 Imih God ana merar tanay anayabin, it i God ana aiwobomaim tarun, nati efan God boro men niyuwiyuw. Imih God tanifai tanabora’ara’ah ata not tutufin etei kakaf bir auman.
29 vì Thượng Đế của chúng ta là ngọn lửa đốt cháy mọi vật.
29 Anayabin ata God i turobe tafaram gurusenayan ana wairaf.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Hebreus 12, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.