Hebreus 10
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Luật pháp chỉ là tượng trưng những điều tốt đẹp hơn sẽ đến trong tương lai; luật pháp không phải là hình ảnh chính xác của vật thật. Những ai ở dưới luật pháp cứ phải dâng sinh tế mỗi năm, nhưng những sinh tế ấy không thể làm cho những kẻ đến gần để thờ phụng Thượng Đế trở thành toàn thiện được.
1 Moses ana ofafar hibi’ufunun i sawar gewasin boro uf hinan ana itinin, men yabin anababatun bi’obaiyihimih. Ana’an nati isan kwamur etei matan hiyi sibor yumatan ta’imon, na baiyubin God kwafirin isan hisisibor, wanawanah hai kakafin men kafa’imo kukusouwimih.
2 Vì nếu luật pháp có thể khiến họ toàn thiện thì khỏi cần phải dâng sinh tế nữa. Nếu những kẻ thờ phụng nhờ đó mà được tẩy sạch thì không còn mặc cảm tội lỗi nữa.
2 Baise nati siboromaim takukusouwih na’at, nati sibor boro hitihamiy. Anayabin kwafirenayah hisisibor ana veya hai kakafin tutufin etei mar moumurih ina’in isan mar ta’imon kusouwih. Naatu dogoroh naniyan hitatatam hai kakafih etei i sawar.
3 Nhưng mỗi năm những sinh tế ấy nhắc họ nhớ lại tội lỗi,
3 Baise nati siboromaim kwamur etei nuhih ekukusib i bowabow kakafin wairafih.
4 vì huyết của bò đực và dê đực không thể nào xóa tội lỗi được.
4 Anayabin cow orot naatu goat hai rara’amaim men karam boro bowabow kakafih tabosairen.
5 Cho nên khi Chúa Cứu Thế đến thế gian thì Ngài phán,
5 Isan imih Keriso tafaramamaim namih Tamah isan eo, “O men kukokok sibor o siwar, imih ayu biyau ibogaigiwas,
6 Ngài không hài lòng về của lễ thiêu
6 bobaituw gem yan hirouw te’aa naatu bowabow kakafin notawiyen isan sibor teya’ay, o men kubiyasisir.
7 Rồi tôi nói, ‘Lạy Thượng Đế, tôi đến.
7 Imih ayu ao, “God ayu iti, a notamaim abisa kukokok na’atube kuo asinaf, a Bukamaim isau i’o hikirum inu’in na’atube.”
8 Trong khúc Thánh Kinh nầy lúc đầu Ngài nói, “Chúa không muốn sinh tế và của lễ, Chúa không hài lòng về của lễ thiêu và của lễ xóa tội lỗi” mặc dù đó là những của lễ mà luật pháp qui định.
8 Wantoro’ot eo, “Sibor naatu siwar o bobaituw gem yan hirouw te’aa naatu bowabow kakafih notawiyen isan tisisibor, o men kubiyasisir.” Basit sabuw i ofafar eo na’atube tisisinaf baise o a naniyan i men ebibasit naatu men kubiyasisir.
9 Rồi Ngài nói, “Lạy Thượng Đế, tôi đến để làm theo ý muốn Ngài.” Thượng Đế đã bãi bỏ hệ thống hi sinh cũ để thiết lập hệ thống mới.
9 Imaibo eo, “Ayu iti God, abisa kunotanot na’atube anasinaf.” Imih God sibor atamanin ya’asair naatu sibor boubun bai na efanin yai.
10 Vì thế, chúng ta được thánh hóa qua sự hi sinh thân thể của Chúa Cứu Thế một lần đủ cả.
10 Naatu God ana kokomaim Jesu Keriso na it etei ata kakafin isan mar maumurih na’in efanin mar ta’imon maiyow, i taiyuwin biyan siboromih yai, ata kakafinane kusouwit tana biyat kakafiyin matar.
11 Mỗi ngày các thầy tế lễ đứng thi hành nhiệm vụ bao giờ cũng dâng cùng một loại sinh tế. Những sinh tế ấy không bao giờ xóa tội được.
11 Firis veya matan hiyi hibat kwafiren ana ef eo na’atube bowabow kakafin notawiyen isan sibor yumatan ta’imon hiya’iyai. Baise men kafa’imo nati siboromaim bowabow kakafih kusouwimih.
12 Nhưng sau khi Chúa Cứu Thế hi sinh vì tội lỗi một lần đủ cả thì Ngài ngồi bên phải Thượng Đế.
12 Baise Keriso na sibor mar ta’imon maiyow yai, bowabow kakafih etei bosairen, naatu yen God uman asukwafune mare ema’am.
13 Hiện nay Ngài đang chờ đợi kẻ thù bị đặt dưới quyền Ngài.
13 Yen mamare ana veya’amaim na iti boun titit, i ma ekakaif God ana kamabiy sabuw nabow anamaim naya isan.
14 Chỉ cần một của lễ hi sinh thôi, Ngài đã làm cho toàn thiện đời đời những kẻ đã được thánh hóa.
14 Anayabin Keriso na taiyuwin biyan mar ta’imon sisibor ana veya it iyabowat bowabow kakafinamaim tama’am wanatowan ana kouksouwen itit, naatu kubaituturit tana God ana sabuw tamatar.
15 Thánh Linh cũng có đề cập về điều nầy cho chúng ta. Trước Ngài nói,
15 Anun Kakafiyin wantoro’ot it isat kukurereb ana tur i iti,
16 “Chúa phán,
16 Regah eo, “Mar boro enan obaibasit sabuw isah boro iti na’atube ana sinaf, au ofafar etei boro dogorohimaim anayai naatu hai notamaim ana kirum saise hinanot hini’ufunun.”
17 Rồi Ngài phán,
17 Naatu iban eo maiye, “Hai bowabow kakafih naatu hai sinaf kakafih boro men ana notamih.”
18 Sau khi những tội lỗi ấy đã được tha thứ thì không cần sinh tế để chuộc tội nữa.
18 Imih ata bowabow kakafih naatu ata sinaf kakafih etei bosairen naatu sibor ya bowabow kakafin notawiyen auman i sawar.
19 Cho nên, thưa anh chị em, bây giờ chúng ta nay được hoàn toàn tự do và dạn dĩ đi vào Nơi Chí Thánh do sự chết của Chúa Giê-xu mang lại.
19 Isan imih taitu, Jesu morob ana rara rara’iy ana maramaim it Sis Kakafiyin Kakafiyin anababatun run isan ana obaibasit i tabai, imih tana’abar totofar tanan tanarun.
20 Chúng ta có thể đi trên con đường mới và sống mà Chúa Giê-xu đã mở ra cho chúng ta, dẫn chúng ta qua bức màn—tức xác Ngài.
20 Naatu run isan Jesu etawan boubun botawiy, yawas ana ef anababatun, naatu faifuw hitaiy re efan kakafiyin anababatun hir inu’in i Jesu biyan it isat momorob ana maramaim ef botawiy.
21 Và vì chúng ta có một thầy tế lễ tối cao rất lớn quản trị cả nhà Thượng Đế
21 Naatu boun it ata firis gagamin God Ana Bar wanawanan sabuw tutufin etei ekakaif.
22 cho nên chúng ta hãy lấy lòng chân thành với đức tin vững chắc mà đến gần Thượng Đế vì chúng ta đã được tẩy sạch khỏi lương tâm tội lỗi, thân thể được rửa bằng nước trong.
22 Isan imih dogorot tutufin etei ere baitumatum auman tanan taniyubin Tamat God sisibinamaim tanabat. Anayabin ata not kakafih ana biya’ohowane etei kusouw, naatu biyat auman harew matan koumedarinamaim ikifuw.
23 Hãy nắm vững hi vọng mà chúng ta đã xưng nhận vì tin chắc Thượng Đế sẽ làm được điều Ngài hứa.
23 Baitumatum iti tabai nuhit fot tama isan ta’orereb i tanabukikin tanama, anayabin God ana omatanen etei isah i ebobosunusunub.
24 Chúng ta hãy suy nghĩ đến nhau và tìm cách khuyến khích nhau, bày tỏ tình yêu thương và làm điều thiện.
24 Imih taiyuwit wanawanatamaim taituwat bairi taninuwatet tanibaibaisbonen, naatu yabow itinin auman tanasinaf bowabow gewasin tanabow.
25 Đừng xao lãng các cuộc nhóm họp, như một số người đang làm, nhưng hãy siêng năng nhóm họp và khích lệ nhau. Khi thấy ngày ấy đến gần chừng nào thì anh chị em hãy càng sốt sắng thêm chừng nấy.
25 Men sabuw afa baita’ay hikwahir bar tema’am na’atube tanasinaf ata kou’ay tanihamiyimih, baise taiyuwit koufair tanitit aumetawat tanabow, anayabin Regah na isan ana veya i na ekakabom.
26 Nếu sau khi đã học biết chân lý mà chúng ta nhất quyết tiếp tục phạm tội thì không còn sinh tế nào để chuộc lỗi nữa.
26 Baise it turobe ana so’ob i hini’obaiyit tanasoso’ob ufunamaim bowabow kakafih sinaf isan tanayakitifuw tanama tanasisinaf na’at, a tur ao’owen bowabow kakafin ana sibor men ta ema’am.
27 Chỉ còn có lo sợ chờ đợi sự trừng phạt và lửa khủng khiếp tiêu diệt những kẻ chống nghịch Thượng Đế mà thôi.
27 Baise nati efanin it boro birumaim tanama baibatiyen ana veya tanakaif, naatu ana’ar fofor wairaf auman tanakaif, nati wairaf i sabuw iyab God isan tibikamabiy boro na’arahih!
28 Ai không vâng giữ luật pháp Mô-se thì bị kết tội dựa theo bằng cớ của hai hoặc ba nhân chứng và bị xử tử, không khoan hồng.
28 Nati ana veya’amaim sabuw iyab Moses ana ofafar hi’a’astu’ub orot rou’ab o tounu hi’itih hina baibatiyenayan orot matah hikukurereb mutufor himomorob baiwan babanih en.
29 Cho nên anh chị em nghĩ phải đối xử thế nào với những kẻ coi thường Con Thượng Đế, xem huyết giao ước đã thánh hóa họ chẳng khác nào một thứ huyết khác, sỉ nhục Thánh Linh của ân phúc Thượng Đế? Chắc chắn họ phải bị trừng phạt nặng hơn.
29 Kwanotanot orot yait God Natun nab urar nararauwariy ana baimakiy boro kikimin nab? Naatu obaibasit ana rara’amaim i ana kakafin kukusouw nab ni’ib anayabin en nao, naatu Anun Kakafiyin manaw kabeberayan nigigim isan tur kakafih nao. Kwanotanot nati orot ana baimakiy boro kikimin nab?
30 Chúng ta biết Thượng Đế phán, “Ta sẽ trừng phạt kẻ phạm tội; ta sẽ báo trả họ.” Ngài cũng phán thêm, “Chúa sẽ xét xử dân Ngài.”
30 Anayabin it etei tur iti na’atube eo i taso’ob, “Ayu boro sa anabow naatu aniwayow,” naatu eo maiye, “Regah boro ana sabuw nibatiyih.”
31 Rơi vào tay Thượng Đế hằng sống là điều khủng khiếp.
31 God wanatowan ma’ama’anin na’of nabuwi uman wanawanan inarur boro kakafin kakafin anababatun inab.
32 Hãy nhớ lại trước kia lúc anh chị em mới học biết chân lý. Anh chị em phải chiến đấu gay go với nhiều khổ đau nhưng vẫn vững mạnh.
32 Kwananot boubuntoro’ot God ana marakaw kwabaib ana veya’amaim, biyababan moumurih na’in kwabai, baise a baitumatum kwabukikin kwabat.
33 Đôi khi bị chế giễu và bị ngược đãi công khai và đôi lúc anh chị em cùng san sẻ với những người gặp đồng hoàn cảnh.
33 Veya afa sabuw etei matahimaim tur kakafih hi’uwi naatu hirukoukuwi biyababan hit, afa turanah tur kakafin hi’uwih biyababan hibaib wanawanah kwarun bairi hai biyababan kwabai.
34 Anh chị em giúp đỡ và chia xẻ nỗi khổ của những kẻ tù tội và khi bị người ta tước đoạt tài sản mà vẫn vui dù vì biết mình có những của cải tốt hơn và bền vững hơn.
34 Sabuw afa dibur hima’am hai biyababan bairi kwafaram kaununub kwaitih, sabuw afa hiyayakiyi yasisiramaim kwaihamiyih hiyakiyi. Anayabin kwa kwaso’ob sawar gewasin naatu wanatowan sawar boro uf hinan.
35 Cho nên đừng mất lòng can đảm của anh chị em, vì có phần thưởng rất lớn đi theo.
35 Isan imih a baitumatum men naririm, baise kaufair kwanab kwanabat kwanan yomaninamaim boro a baiyan kwanab.
36 Anh chị em hãy bền lòng vâng theo ý muốn Thượng Đế và nhận được điều Ngài hứa.
36 Yate nanub kwanitafofor kwanatit God abisa ekokok kwanasinaf, abisa eo’omatani boro nit.
37 Vì ít lâu nữa thôi,
37 Anayabin,
38 Người đã giảng hòa cùng ta
38 Baise au orot menatan ana ef mutufurin boro baitumatumamaim nama, naatu au’uf nabatabat na’at ayu boro men aniyasisir.”
39 Nhưng chúng ta không phải là những kẻ quay đi để bị chết mất. Chúng ta là những người có đức tin và đã được cứu rỗi.
39 Baise it men sabuw iyab au’uf hibat gurugurusen hibaib na’atube’emih, it i baitumatumayah boro yawas tanab.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Hebreus 10, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.