Gálatas 5
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Chúa Cứu Thế đã giải thoát chúng ta để chúng ta được tự do nên hãy vững mạnh. Đừng mang ách nô lệ dưới luật pháp nữa.
1 Turobe it i kakafinane tama’am Keriso rufamit botaitit tatit, imih kwanabatkikin, naatu men kwanamatabir ofafar ana dibur kwanarun maiye’emih.
2 Tôi, Phao-lô bảo anh em điều nầy: Nếu anh chị em trở lại theo luật pháp bằng cách chịu phép cắt dương bì thì Chúa Cứu Thế sẽ không ích gì cho anh em cả.
2 Ayu Paul tur iti ao’o, Kwananowar gewas! Kwa a baibasitamaim a’ar mo’oh hina’a’afuw na’at, Keriso ana baibais kwa isa i boro men nama.
3 Ngoài ra, tôi nhắc nhở mọi người đàn ông là nếu họ chịu phép cắt dương bì thì họ phải vâng giữ toàn thể luật pháp.
3 Iban abimatnuwi maiye, orot yait ibasit ana ar hina’a’afuw, nati orot i gewasin ofafar tutufin etei ni’ufunun.
4 Nếu anh chị em tìm cách làm vừa lòng Thượng Đế qua con đường luật pháp thì đời sống của anh chị em trong Chúa Cứu Thế xem như chấm dứt—anh chị em mất ân phúc của Thượng Đế rồi.
4 Kwa iyab kwasinaftobon ofafaramaim rumutufuri na God biyan tit isan kwananotanot, kwa a ef Keriso biyanamaim i turu’um kwatit, naatu God ana manaw ana kabeber ufunane kwama’am.
5 Nhưng nhờ đức tin, chúng ta nóng lòng chờ đợi sự công chính mà chúng ta hi vọng qua Thánh Linh.
5 Baise it ata baitumatumamaim God yamutufurit naatu Anun Kakafiyin ana fairamaim abisa God eo’omatanit isan nuhit fot tama takakaif.
6 Trong Chúa Cứu Thế thì dù chịu cắt dương bì hay không, chẳng quan hệ gì cả. Điều quan trọng là đức tin—loại đức tin tác động qua tình yêu.
6 Anayabin it Keriso Jesu bairit tabita’imon ana veya’amaim ata ar hi’afuw o afuwina’e nati i men ana’an gagaminamih, baise ana’an gagamin i o inabitumatum ana veya nati baitumatum boro nakura’ahi sabuw afa iniyabuwih.
7 Anh chị em đã chạy đua giỏi. Ai cản trở anh chị em vâng theo chân lý?
7 Kwa i kwabusuruf gewasin maiyow kwanunuw! Baise yait eotani turobe kwabi’ufunun kwaihamiy kwanutanub kwama’am?
8 Sự xúi giục ấy không phải đến từ Đấng đã gọi anh chị em đâu.
8 Nati o’otanen i men God kwa eafi kwanan i eotani kwama’amamih.
9 Hãy coi chừng vì “chỉ cần một chút men là đủ làm dậy cả đống bột.”
9 Sabuw teo na’atube, “Tur kakafin ta’imon awamaim titit ma etei boro ni’afiy, ana itinin yeast kikimin faraw wanawanan teyai tekamat erara’at na’atube.”
10 Nhưng trong Chúa, tôi tin rằng anh chị em không nghĩ khác. Những người gây rối trong anh chị em sẽ bị trừng phạt, dù cho họ là ai đi nữa.
10 Baise ayu abitumatum Regah boro nabonawiyi kwanamatabir maiye Regah wanawananamaim abisa ai’itin bairi ta’imon tana’itin, naatu orot yait kwa a not ebikwakwaris, men aso’ob orot yait, nati orot boro God ana baimakiy nab.
11 Thưa anh chị em, tôi chưa hề dạy rằng đàn ông phải chịu cắt dương bì. Nếu thỉnh thoảng tôi dạy về phép cắt dương bì thì tại sao tôi vẫn còn bị ngược đãi? Nếu tôi dạy phép cắt dương bì thì việc tôi giảng về thập tự giá không có gì trở ngại.
11 Taitu, ayu ar afuw isan ana bibinan na’at, aisim ayu boro’ika hi’uwu tibi’a’akiru? Ayu nati ana sisinaf turobe na’at, ayu Keriso onaf afe’en momorob isan abibinan i boro men yare ta timatar.
12 Tôi mong cho những người đang quấy nhiễu anh chị em tự thiến hết!
12 Oare, au kok nati sabuw iyab kwa a not tibikwakwaris kwaihamiyih hai kok tisinaf ten yanoh foufuh tebow erubarih tema.
13 Thưa anh chị em, Thượng Đế đã gọi anh chị em nhận sự tự do nhưng đừng lạm dụng sự tự do ấy để thỏa mãn dục vọng tội lỗi của mình. Hãy dùng tình yêu mà phục vụ nhau.
13 Taitu kwa i hi’afi kwatit roufamen kwabai, baise men iti roufamen kwabaib imaim nuhinafot kwa biya ana kok nanawiyimih, baise nati efanin kwa i yabowamaim nanawiyi taituwa isah kwanabow.
14 Tất cả luật pháp có thể tóm tắt trong một mệnh lệnh nầy: “Hãy yêu người láng giềng như yêu mình.”
14 Anayabin ofafar etei i bai na ita’imon an ta’imon matar, “Taituwa iniyabuwih o isa kubiyabow na’atube.”
15 Cho nên nếu anh chị em cứ mãi làm hại nhau hay cắn nuốt nhau thì hãy coi chừng, vì người nầy có thể bị người khác tiêu diệt.
15 Baise o sigarafor na’atube inabat hauhuh iniwa’an turanah inayob inabi’a’afiyen na’at, i mata toniwa’an a kou’ay i boro inagurus ni’en.
16 Cho nên tôi khuyên: Hãy sống theo Thánh Linh thì anh chị em sẽ không làm theo ý muốn của con người tội lỗi của mình.
16 Abisa ao i iti. Anun Kakafiyin ana yawasamaim nakaifi kwanama, saise kwa boro men biya ana kok kakafih sinaf susuwimih kwaniwa’an.
17 Thể xác nghịch với Thánh Linh và Thánh Linh nghịch với thể xác. Hai bên đối nghịch nhau như thế cho nên anh chị em không làm được điều mình muốn.
17 Anayabin abisa biyat ekokok Anun Kakafiyin i men ekokok naatu abisa Anun Kakafiyin ekokok biyat i men ekokok. Iti sawar rou’ab i tibirakit naatu nati ana naniyan i o men karam abisa kukokok boro inasinaf.
18 Nhưng nếu Thánh Linh hướng dẫn thì anh chị em không ở dưới luật pháp.
18 Baise Anun Kakafiyin nananawiyi na’at, o boro men ofafar nabonawiy babanamaim inama’amih.
19 Những điều mà thể xác của con người tội lỗi chúng ta ham muốn rất rõ ràng: loạn luân, không tinh sạch, gian dâm,
19 O biya ana naniyan kakafinamaim nananawiyi ana ro’oh i, baiwa’an kwanekwan not kakakafih not kwanekwan,
20 thờ thần tượng, phù phép, ganh ghét, gây rối, đố kỵ, giận dữ, ích kỷ, gieo xung khắc với nhau, gây chia rẽ,
20 umataratar kwafirih, kwerakwer sabuw baitutumih, bai’a’awanen, yaso’ar, gamin, baiyow; baibobowen kwanekwan, mata baifefek, naatu kau’ay kausisibin gidigidih matar,
21 ganh tị, say sưa, nhậu nhẹt chè chén cùng những việc tương tự. Tôi cảnh cáo anh chị em cũng như tôi đã từng cảnh cáo: Những người làm những việc như thế không thể nào hưởng được Nước Trời đâu.
21 bahiy kwanekwan, tom kwanekwan baikoko’aw naatu kakafih sinaf kwanekwan na hanef tetebon, naatu sawar kakafih afa auman. Marasika abimatnuwi na’atube boun iban abimatnuwi maiye. Sabuw iyab sawar iti tisisinaf God ana aiwobomaim boro men hinarun hiniyasisir.
22 Nhưng Thánh Linh sinh ra những bông trái như yêu thương, vui mừng, bình an, kiên nhẫn, ôn hòa, đức độ, trung tín,
22 Baise Anun Kakafiyin ana ro’oh i yabow, yasisir, tufuw, yatenub, kabeber, gewagewasin, kakaf,
23 khiêm nhường, tiết độ. Không có luật nào cấm đoán những điều ấy.
23 yara’iyen naatu yawas roumutufuren. Sabuw iyab iti yawasamaim tema’am ofafar boro men nafatumih.
24 Những ai thuộc về Chúa Cứu Thế đã đóng đinh con người tội lỗi của mình cùng với tình cảm ích kỷ và những điều ác trong lòng vào thập tự giá rồi.
24 Sabuw iyab Keriso Jesu nowan i biyah ana kok naatu biyah ana yababan etei onaf afe’en hi’onaf morob.
25 Vì đã nhận được nếp sống mới từ Thánh Linh nên chúng ta hãy bước theo Thánh Linh.
25 Yawas boubun iti boun tabai tama’ama i Anun Kakafiyin itit. Imih i Anun Kakafiyin ana kokomaim nabonawiyit.
26 Chúng ta không nên tự phụ, châm chọc nhau hoặc hiềm khích nhau.
26 It men tanio’o’orot o men taituwat tania’awanih o men taituwat isah tanibobowen.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Gálatas 5, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.