Gálatas 4

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Tôi muốn trình bày với anh chị em điều nầy: Người sẽ thừa kế gia tài của cha mẹ mà còn nhỏ tuổi thì chẳng khác gì kẻ nô lệ, dù rằng trong tương lai người ấy sẽ làm chủ trọn gia tài đi nữa.
1 Tur tabo anao maiye kwana’itin, orot emomorob nati tot buyoy tutufin etei i natun kek nowan, baise nati kek i akir mowan na’atube boro hinao’waiwin, ana bowabow hinabowawain, anayabin i kek sosof.
2 Trong khi còn nhỏ phải vâng theo lời người giám hộ và quản lý tài sản mình. Chỉ khi đến tuổi thành niên theo người cha đã định thì người ấy mới được tự do.
2 Kek sosof ana veya na orot namamatar ana founamaim, orot gagamih afa nati kek boro hinakaif, naatu ana sawar tutufin etei auman boro hinakaif nanan tamah ana kwamur ya’iyai na’atube nab, imaibo ana sawar tutufin etei boro hinaya’abun umanamaim nayen.
3 Chúng ta cũng thế. Trước kia khi còn thơ ấu, chúng ta làm tôi mọi cho những quyền lực vô ích đang thống trị thế gian.
3 Ef i nati ta’imon it isat na’atube matar, it kek na’atube tai’akir iti tafaram hai afiy kakafih hibonawiyit, tanot boro imaim hitiyawasit.
4 Nhưng đúng kỳ đã định, Thượng Đế sai Con Ngài đến, sinh ra do một người nữ và sống dưới luật pháp.
4 Baise veya anababatun na titit ana maramaim, God taiyuwin Natun iyafar na tafaram babin natun na’atube taub yai, Jew sabuw hai ofafar babanamaim ma.
5 Thượng Đế đã định như vậy để Ngài có thể chuộc sự tự do cho những người sống dưới luật pháp và cũng để cho chúng ta có thể trở thành con nuôi Ngài.
5 Sabuw iyab ofafar babanamaim hima’am tobon botaitih, saise it mi’itube tatan God natunatun tatamatar.
6 Vì anh chị em là con cái Ngài nên Thượng Đế đưa Thánh Linh của Con Ngài vào lòng chúng ta. Thánh Linh đó kêu lên, “Thưa Cha!”
6 Natunatun baiturobe isan, God Natun Anun Kakafiyin iyafar it dogorot wanawanan rerey eo, “Abba, Tamaiya!”
7 Cho nên anh chị em không còn là nô lệ nữa mà là con Thượng Đế. Và vì anh chị em là con Ngài nên Ngài sẽ cho anh chị em hưởng ân phúc của Ngài.
7 Imih kwa i men akir sabuw, baise God natunatun, naatu kwa i kwana natunatun kwamatar, imih toto buyoy tutufin etei God nowan boro natunatun nitih.
8 Trước kia anh chị em không biết Thượng Đế nên làm nô lệ cho những thần giả.
8 Marasika kwa God men kwaso’ob imih tafaram hai afiy isah kwai’akir, nati i men God hai babatun.
9 Nhưng nay anh chị em đã biết Thượng Đế chân chính. Thật ra Thượng Đế biết anh chị em thì đúng hơn. Thế thì tại sao anh chị em lại quay trở về với những qui tắc vô dụng trước kia? Anh chị em lại muốn làm nô lệ cho những thứ ấy nữa sao?
9 Baise boun i kwa God kwasu’ub naatu God kwa su’ubi, naatu mi’itube iban maiye kwakokok kwanamatabir wagabur ririmih naatu murubih kwani’uf nunihimih. Aisim kwakokok iban hai akir kwanamatar maiye.
10 Anh chị em lại vẫn muốn giữ ngày, tháng, mùa và năm à?
10 Kwa i tafaror hai veya gagamih, sumar yomanih hai hiyuw, mour hai veya gagamih naatu kwamur yomanih veya gagamih imaim a not gagamin kwabitin, kwanotanot boro imaim yawas kwanab.
11 Tôi rất lo ngại, vì tôi e rằng tôi đã phí công cho anh chị em.
11 Bowabow nati na’atube kwasisinaf i ayu abirubir, nati ana itinin kwa baibaisi isan asisinaf i yabin en?
12 Thưa anh chị em, vì tôi đã trở nên giống như anh chị em, xin anh chị em hãy trở nên giống như tôi. Trước đây anh chị em đối với tôi rất tốt.
12 Ayu ana kwabe amatar bairi tama’am ana veya, ayu isou men kafai kakafin ta kwasinaf. Imih taitu ao’ototofari ayu’ube kwanamatar.
13 Chắc anh chị em còn nhớ, lần đầu tiên, dù đang đau yếu nhưng tôi vẫn đến giảng Tin Mừng cho anh chị em.
13 Kwaso’ob ayu boubuntoro’ot Tur Gewasin kwa isa abai anan ana veya i sawow auman baise a binan kwanowar.
14 Mặc dù bệnh tật là một thử thách nhưng anh chị em không ghét tôi hoặc xua đuổi tôi, mà trái lại, anh chị em đã tiếp đón tôi như thiên sứ của Thượng Đế và xem tôi như Chúa Cứu Thế vậy!
14 Basit, ayu biyou sawowomaim iwa’an kwa rurutubuni na’atube, kwa men kafai ayu kwanuw furuwu o kwahaiwu, baise au merar kwayi kwabuwu God ana tounamatar ta na’atube, naatu Keriso Jesu ana merar kwatay kwatabaib na’atube ayu kwabuwu.
15 Lúc ấy anh chị em rất vui mừng, bây giờ thì niềm vui ấy đâu rồi? Tôi có thể làm chứng rằng lúc ấy nếu có thể được thì anh chị em cũng dám móc mắt mà cho tôi.
15 Kwa ayasisir i ra’at, baise boun abistan matar? Ayu boro iti na’atube kwa isa atao, “Matah hitabobotaitenamih tim mata kwatabotaiten, ayu kwatitu.”
16 Bây giờ chẳng lẽ tôi trở thành kẻ thù anh chị em chỉ vì tôi nói sự thật sao?
16 Ana itinin i ayu ana kwa arakit amatar, anayabin ayu tur anababatun ao kwanowar imih i?
17 Những người kia tìm mọi cách thuyết phục anh chị em nhưng lòng dạ họ không tốt. Họ muốn dụ dỗ anh chị em chống lại chúng tôi để anh chị em hăng hái đi theo họ.
17 Nati sabuw baifuwenayah hai kok gagamin i kwa hinabuwi isah kwanarabon ayu kwanihamiyu, baise men kwa a gewasin isan tisisinaf. Nati hai not i kwa hinabuwi i hai gewasin isan.
18 Người nào có nhiệt tâm với anh chị em đều tốt miễn là động lực của họ cũng tốt, chớ không phải chỉ tốt khi nào tôi có mặt giữa anh chị em mà thôi đâu.
18 Sabuw hai kok gagamin kwa buwi rabon kou’ay ta’amaim i gewasin naatu anayabin gewasinamaim i basit, baise men ayu nati’imaim ana ma’ama hinasinafumih.
19 Các con yêu dấu của ta ơi, ta đang chịu đau đớn để sinh ra các con cho đến khi Chúa Cứu Thế thành hình trong các con.
19 Are natunatu, babin taubumih biyababan ebaib na’atube, ayu biyababan ta’imon kwa isa abai anan kwa a’itinin Keriso’obe kwanamatar imaibo nuhunafot.
20 Ta muốn có mặt giữa các con để có thể thay đổi cách nói chuyện với các con vì hiện tại ta không biết nghĩ thế nào về các con.
20 Au notamaim anotanot boun mi’itube biyamaim atatit saise kwa isa abisa anotanot atao kwatanowar, boun men aso’ob abisa boro ayu kwa isa anao.
21 Một vài người trong anh chị em vẫn còn muốn sống dưới luật pháp. Anh chị em nghe luật pháp nói gì không?
21 Kwa iyab ofafar babanamaim kwama’am akokok anibatiy, kwa ofafar eo’oban naniyan kwabaib?
22 Thánh Kinh viết rằng Áp-ra-ham có hai con trai. Một đứa là con của người nữ nô lệ, còn đứa kia là con của người nữ tự do.
22 Iti na’atube hikirum ema’am, Abraham natunatun i rou’ab. Natun ta i akir babin biyanane, natun ta i aawan anababatun biyanane.
23 Đứa con của Áp-ra-ham do người nữ nô lệ sinh ra theo lối thông thường của loài người. Nhưng đứa con do người nữ tự do được sinh ra theo lời hứa của Thượng Đế với Áp-ra-ham.
23 Natun iti akir babin biyanane i tufuw maiyow tufuw, baise natun ta i aawan anababatun biyanane tutufuw i God ana omatanenamaim tufuw.
24 Câu chuyện nầy còn mang một ý nghĩa khác: Hai người nữ ấy là hai giao ước mà Thượng Đế lập. Một giao ước được trao cho từ núi Si-nai và sinh ra con cái nô lệ. A-ga, tên người mẹ, là giao ước ấy.
24 Iti sawar tana’i’itin gewas i oroubon na’atube. Baibin rou’ab hairi hai itinin i obaibasit rou’ab. Obaibasit wantoro’ot i oyaw Sinai isan, naatu nati’imaim iyab hitutufuw i akir na’atube hitufuw. Nati i Hagar natunatun.
25 Ha-ga có thể ví như núi Si-nai ở Á-rập và tương tự như thành Giê-ru-sa-lem ngày nay. Thành ấy và luôn cả dân cư đều là nô lệ cho luật pháp.
25 Naatu oyaw Sinai i Arabia wanawananamaim ebatabat, imih nati i Hagar ana itinin, naatu boun ana veya Hagar ana itinin i nati Jerusalem bar meraramaim ta’i’itin, anayabin i natunatun bairi i akir sabuw.
26 Nhưng Giê-ru-sa-lem trên trời thì tự do. Thành ấy là mẹ của chúng ta.
26 Baise mar ana Jerusalem i roufamen, naatu nati babin i it hinat.
27 Như Thánh Kinh viết:
27 Bukamaim hikikirum eo na’atube, “Babin o yait a’ar, aur kek en, iniyasisir, inakawasa, fana aumetawat na’in iniwow, anayabin o kek hai tufuw ana biyababan men itatam. Baise babin yait taubu’e, a’arin ma’am ana kek boro moumurih na’in hinatufuw, naatu babin aawan auman boro nanatabir.”
28 Thưa anh chị em, anh chị em là con cái Thượng Đế do lời hứa của Ngài, giống như Y-sác đời xưa vậy.
28 Imih taitu, kwa i God ana omatanen natunatun Isaac eo’omatan na’atube.
29 Đứa con sinh ra theo lối tự nhiên bắt nạt đứa con sinh ra theo quyền lực của Thánh Linh. Ngày nay cũng thế.
29 Nati ana veya’amaim kek tufuw maiyow tutufuw misir kek Anun Kakafiyin
30 Nhưng Thánh Kinh nói gì? “Hãy đuổi người đàn bà nô lệ và con của nó đi. Con người đàn bà nô lệ sẽ không được phép hưởng thụ điều gì chung với con của người đàn bà tự do đâu.”
30 Baise bukamaim mi’itube eo? “Akir babin natun hairi kwanunih titit, anayabin akir babin natun boro men karam roufamen babin natun tamah ana toto ana buyoy turin nabaimih.”
31 Vì thế, thưa anh chị em, chúng ta không phải là con của người đàn bà nô lệ mà là con của người đàn bà tự do.
31 Isan imih taitu, it i men akir babin natunatunamih, baise roufamen babin natunatun.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Gálatas 4, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.