Gálatas 3
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Các anh chị em là người ở Ga-la-ti đã được trình bày rõ ràng trước mắt về sự chết của Chúa Cứu Thế trên thập tự giá, nhưng anh chị em lại quá dại dột để người khác lừa gạt mình.
1 Kwa Galasia sabuw i kwabikoko’aw! Yait rarafi kwabi’afesair? Kwa etei matamaim Jesu Keriso onaf afe’en momorob isan, ayu bebeyan maiyow ana morob mi’itube i akubunabuna kwanowar.
2 Hãy cho tôi biết một điều: Anh chị em nhận lãnh Thánh Linh cách nào? Có phải nhờ vâng giữ luật pháp không?—Không! Anh chị em nhận Thánh Linh là nhờ nghe và tiếp nhận Tin Mừng.
2 Imih au baibat ta’imon anibat kwanao ana nowar. Anun Kakafiyin kwabaib i ofafar eo na’atube kwasisinaf imih kwabai, o Tur Gewasin kwanowar kwaitumatum imih kwabai?
3 Anh chị em đã bắt đầu cuộc đời mới trong Chúa Cứu Thế nhờ Thánh Linh rồi bây giờ lại nhờ sức riêng để hoàn tất công tác ấy. Thật là dại!
3 Kwa mi’itube’emih kwabikoko’aw! Kwa i Anun Kakafiyinamaim kwabusuruf; naatu boun i kwakokok taiyuw a fairamaim kwanakusouwimih kwabiwa’an?
4 Phải chăng những sự khốn khổ mà anh chị em đã chịu hóa ra vô ích sao? Tôi hi vọng là không!
4 Kwa iti biyababan kwabai kwabi’akir kwanotanot i yabin en ai ana yasisir en? Ige, iti sawar ibo anayabin auman o ana’an auman.
5 Có phải nhờ vâng giữ luật pháp mà Thượng Đế ban Thánh Linh và thực hiện nhiều phép lạ trong vòng anh chị em không? Không phải. Ngài thực hiện những việc ấy là vì anh chị em nghe và nhận.
5 God Anun Kakafiyin ebit naatu wanawanamaim ina’inan ebiwa’an, anayabin ofafar eo na’atube kwasisinaf imih ebit o Tur Gewasin kwanowar kwabitumatum imih ebit?
6 Thánh Kinh cũng đã nói tương tự về Áp-ra-ham như sau, “Áp-ra-ham tin Thượng Đế, Ngài chấp nhận đức tin của ông và đức tin ấy khiến ông trở thành công chính trước mặt Thượng Đế.”
6 Abraham ana yawas mi’itube ma’am i kwana’itin; Buk eo na’atube, Abraham God itumitum, naatu i ana baitumatumamaim God bai, anayabin ana ef mutufurin God matanamaim.
7 Cho nên anh chị em phải biết rằng những người có đức tin là con cháu thật của Áp-ra-ham.
7 Imih kwa i kwanaso’ob, Abraham wawawan anababatun i sabuw iyab aurih baitumatum ema’am.
8 Thánh Kinh cũng đã thấy trước việc tương lai và nói rằng Thượng Đế sẽ khiến những người không phải Do-thái trở nên công chính qua đức tin của họ. Tin Mừng nầy đã được loan báo trước cho Áp-ra-ham rằng, “Mọi dân tộc sẽ nhờ ngươi mà được hưởng ân phúc.”
8 Buk marasika eo baiman na’atube, God Ufun Sabuw baitumatumamaim boro nayamutufurih. Naatu imih Tur Gewasin Abraham isan eorereb. “O wanawanamaim God boro sabuw etei nigegewasinih.”
9 Cho nên hễ ai tin đều được ân phúc như Áp-ra-ham, là người có niềm tin.
9 Abraham itumatum naatu baigegewasin bai, imih sabuw iyab tibitumatum i baigegewasin tebaib i baib na’atube.
10 Còn những người mong được trở nên công chính bằng cách vâng giữ luật pháp thì bị nguyền rủa như Thánh Kinh viết, “Người nào không bền lòng vâng giữ mọi điều đã được ghi chép trong Sách Luật sẽ bị nguyền rủa.”
10 Sabuw iyab ofafar tafan hitumatum hima tibi’ufunun, nati sabuw i o rarafen babanamaim tema’am. Anayabin Bukamaim eo, “Orot yait Ofafar Bukamaim hikirum inu’in mar etei men nati tur eo na’atube ebi’ufunun, nati orot i God ana orarafen babanamaim ema’am!”
11 Như thế rõ ràng là không ai có thể trở thành công chính trước mặt Thượng Đế qua luật pháp vì Thánh Kinh viết, “Những ai trở nên công chính nhờ đức tin sẽ sống.”
11 Imih boun i bebeyan ebi’obaiyit men yait ta ofafar eo’omaim boro ana ef nayamutufur nan God biyan natitamih. Anayabin Bukamaim eo, “Orot yait baitumatumamaim ana ef yamutufur na God baib, i akisinamo boro nama.”
12 Luật pháp không dựa trên đức tin. Luật pháp chỉ nói phương cách duy nhất để con người tìm được sự sống qua luật pháp là vâng giữ các điều luật ấy.
12 Ofafar ana bowabow i men ta baitumatumamaim ema’am, baise Bukamaim eo, “Orot yait sawar etei ofafar eo na’atube nasisinaf na’at boro nama.”
13 Chúa Cứu Thế đã giải thoát chúng ta khỏi sự nguyền rủa của luật pháp. Ngài đổi địa vị thay cho chúng ta và tự đặt mình dưới sự nguyền rủa ấy. Như Thánh Kinh viết, “Người nào bị treo lên cây thật đáng rủa.”
13 Baise it etei ofafar ana orarafen babanamaim tama’am Keriso tubunit it ata orarafen i bai; anayabin Bukamaim eo, “Orot yait ai afe’en teo’onaf nati orot
14 Chúa Cứu Thế đã làm điều ấy để phúc lành hứa cho Áp-ra-ham sẽ được thực hiện qua Chúa Cứu Thế cho những người không phải Do-thái; do đó nhờ đức tin chúng ta sẽ nhận được Thánh Linh mà Thượng Đế đã hứa.
14 Keriso iti sinaf saise baigegewasin God Abraham eo’omatan i Keriso Jesu’umaim tan Ufun Sabuw hitab, saise baitumatumamaim Anun Kakafiyin tatab God eo’omatanit na’atube.
15 Thưa anh chị em, chúng ta hãy suy nghĩ theo cách loài người đi: Một khi di chúc đã thành hiệu lực thì không ai có thể hủy bỏ hay thêm bớt điều gì.
15 Taitu tuwai’inah, ayu i boro mar etei tasisinafumaim ao kwana’itin. Orot rou’ab sawar ta isan hairi hio hibasit wabih obaibasit ana fefemaim hikikirum boro men yait ta na’astu’ub o tafan naya’abar.
16 Thượng Đế đã hứa với Áp-ra-ham và dòng dõi ông. Ngài không nói, “và cho các dòng dõi ngươi” để chỉ về nhiều người nhưng nói “và cho dòng dõi ngươi” để chỉ về một người mà thôi, người ấy là Chúa Cứu Thế.
16 Naatu boun kwana’itin, God ana omatanen ta Abraham eomatan, naatu uwan auman eomatan, Bukamaim i men hikirum hio wawawan, nati i men wanawan moumurih isah eo, baise uwan ta’imon isan eo. Nati uwan i Keriso.
17 Đây là điều tôi muốn nói: Thượng Đế đã lập giao ước với Áp-ra-ham theo đúng thể thức ấy. Còn luật pháp thì mãi đến bốn trăm ba mươi năm sau mới có nên không thể thay đổi giao ước ấy hoặc hủy bỏ lời hứa mà Thượng Đế dành cho Áp-ra-ham được.
17 Abisa ao anayabin i God Abraham hairi obaibasit ta hikirum in, imaibo kwamur 430 sasawar ufunamaim ofafar matar, imih men karam God ana obaibasit marasika kikirum boro ta’astu’ub naatu ana omatanen tabosair.
18 Nếu chúng ta có thể hưởng gia tài qua luật pháp thì không cần lời hứa nữa. Nhưng không phải thế, vì Thượng Đế đã ban phúc lành nhiều trên Áp-ra-ham qua lời hứa mà Ngài đã lập.
18 Anayabin God ana siwar ofafar tafanamaim tabatabat na’at, nati i ana omatanen tafanamaim boro men tabat, baise God ana bosiyasiyaramaim ana omatanen kaif Abraham baigegewasin itin.
19 Thế thì mục đích của luật pháp là gì? Luật pháp được đặt ra vì những vi phạm của con người. Luật pháp được kéo dài cho đến khi một người thuộc dòng dõi ấy tức Đấng đã được hứa từ trước, xuất hiện. Luật pháp được các thiên sứ trao cho Mô-se, như người trung gian để truyền lại cho dân chúng.
19 Imih ofafar ana’an i abisa isan matar? Ofafar mamatar ana’an i kakafih imaim itinin so’ob isan. Naatu imaim tabonawiyit tanan Abraham uwan isan God eo’omatan tan tatit. Iti ofafar i tounamatar hibai hire orot foun batayan hitin.
20 Nhưng nếu chỉ có một phía thì không cần người trung gian nữa vì chỉ có một mình Thượng Đế mà thôi.
20 Naatu God Abraham omatanen bitin ana veya i men foun batayan orot biyanamaim sinaf, baise God akisin foun bat sinaf.
21 Như thế có phải luật pháp nghịch lại với lời hứa của Thượng Đế không? Không phải. Giá như có luật nào ban cho con người mà lại có khả năng làm cho sống thì đúng là con người được nên công chính nhờ luật pháp.
21 Kwanotanot ofafar naatu God ana omatanen hairi i tibigamigam? En anababatun, anayabin ofafaramaim orot ana yawas tabaib na’at, turobe orot ana ef yamutufurin isan boro ofafaramaim tan.
22 Trái lại, Thánh Kinh cho thấy cả thế gian bị tội lỗi trói buộc để hễ ai đặt niềm tin trong Chúa Cứu Thế đều nhận được lời hứa.
22 Baise Bukamaim eorereb tanowar, tafaram tutufin etei i bowabow kakafin ana fair bai karatan. Imih ef ta’imon God ana omatanen bain nowatamih matar isan i Jesu Keriso akisinamo tanitumitum.
23 Trước khi đức tin đến, tất cả chúng ta đều bị luật pháp giam giữ cho tới khi đức tin được bày tỏ ra.
23 Baitumatum i ufibo natit, baise wantoro’ot i ofafar buwit ana dibur yariyit tama nan imaibo baitumatum natit irerereb.
24 Nói khác đi, luật pháp là người giám hộ dẫn chúng ta đến cùng Chúa Cứu Thế để chúng ta trở nên công chính trước mặt Thượng Đế qua đức tin.
24 Isan imih ofafar i ata bai’obaiyen orot na’atube bonawiyit tana Keriso biyan tatit, naatu boun i baitumatumamaim ata ef yamutufur God nanamaim tatit.
25 Hiện nay đức tin đã đến nên chúng ta không còn sống dưới quyền người giám hộ nữa.
25 Imih it boro men ofafar ana bonawiyenamaim tanama’amih, nati i sawar, anayabin boun i baitumatum ana veya tit.
26 Qua đức tin trong Chúa Cứu Thế, anh chị em trở nên con cái Thượng Đế vì anh chị em đều đã chịu báp-têm trong Chúa Cứu Thế nên được mặc lấy chính mình Ngài.
26 Naatu kwa etei’imak baitumatumamaim kwana Jesu Keriso bairi kwaita’imon God natunatun kwamatar.
27 — ausente —
27 Keriso wabinamaim bapataito kwabai ata kou’ay ta’imon matar, imih Keriso ana yawas a faifuwamih kwa’us.
28 — ausente —
28 Imih kwa i men a itinin tata’amih, men Jew o Ufun Sabuw, men akir o roufamen sabuw, men orot o babin, kwa etei i ta’imon Keriso Jesu ana baita’imonin wanawananamaim kwama’am.
29 Vì anh chị em thuộc về Chúa Cứu Thế cho nên cũng thuộc dòng dõi Áp-ra-ham. Do đó, anh chị em sẽ hưởng mọi phúc lành nhờ lời hứa mà Thượng Đế đã lập cùng Áp-ra-ham.
29 Keriso kwa nowa namamatar na’at, kwa i Abraham wawawan naatu God abisa eo’omatan boro kwanab.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Gálatas 3, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.