Gálatas 2
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Mười bốn năm sau tôi lại lên Giê-ru-sa-lem, lần nầy có Ba-na-ba cùng đi. Tôi cũng có mang Tít theo.
1 Kwamur etei 14 sasawar ufunamaim ayu Barnabas airi Titus abai auman bairi amatabir ayen ana Jerusalem atit.
2 Tôi lên là vì Thượng Đế bảo tôi. Tại đó, tôi gặp các tín hữu và trong buổi gặp gỡ riêng, tôi trình bày với các vị được xem như lãnh đạo về Tin Mừng mà tôi đang rao giảng cho những người không phải Do-thái. Tôi không muốn công khó của tôi trong quá khứ cũng như hiện tại bị uổng phí.
2 Ayu ayey au an i God ana tur isou iwa’an birerereb i orot ukwarih bairi wa’iwa’iramaim omih ayen an. Ayu mi’itube Ufun Sabuw isah Tur Gewasin abibinan ata kubuna hitanowar, saise abisa abusuruf abowabow naatu abisa bowamih ayayakitifuw men hita’otanu au bowabow yomanin yabin en tamataramih.
3 Cùng đi với tôi có Tít, anh ta cũng không bị bắt buộc phải chịu phép cắt dương bì mặc dù anh ta là người Hi-lạp.
3 Ayu au baitur Titus Greek orot isan i men ana’ar kanabin afuwinamih aokikin.
4 Sở dĩ chúng tôi nói đến vấn đề nầy vì có một vài anh em giả đã lén trà trộn vào trong nhóm chúng tôi để dò la sự tự do mà chúng tôi đã nhận được từ Chúa Giê-xu Cứu Thế, nhưng thật ra trong thâm tâm họ muốn bắt chúng tôi làm nô lệ.
4 Baise sabuw afa hikokok i ana’ar kanabin hita’afuw, iti sabuw i hikirisiyan moyamoy hina ata kou’ayomaim hirun rafot rouwayah na’atube, saise Keriso Jesu wanawananamaim roufamen tabaib hitatita’ur naatu hita’uwit ata ar kanabih tata’afuw akir sabuw tatamataramih.
5 Nhưng chúng tôi không chịu nhường họ một giây phút nào. Chúng tôi muốn bảo vệ sự thật về Tin Mừng cho anh chị em.
5 Baise aki men kafai veya ta aitih, anayabin aki akok turobe naatu Tur Gewasin atabotan kwa a gewasin isan tama.
6 Các vị được xem như lãnh đạo ấy không thay đổi gì trong Tin Mừng mà tôi rao giảng. Họ có quan trọng hay không, điều ấy không quan hệ gì đối với tôi. Trước mặt Thượng Đế mọi người đều như nhau thôi.
6 Orot iyab tibi’ukwarin isah, ayu boro iti na’atube atao, men ta gagamin, naatu men ta kikimin etei i ta’imon. Anayabin God men orot ukwarih ufuhine i’itinimih, baise wanawanahine i’itin. Imih nati orot ukwarih ayu au tur ao men tafan hinaya’abarimih.
7 Các nhà lãnh đạo ấy nhận thấy tôi đã được ủy thác nhiệm vụ rao Tin Mừng cho người không phải Do-thái cũng như Phia-rơ được giao cho nhiệm vụ truyền giảng cho người Do-thái.
7 Hinotanot ayu tur boubuh afa ayabaren hirouw higamigam, ufibo hinunuwariy God Tur Gewasin Peter itin Jew sabuw isah bibinan na’atube ayu itu Ufun Sabuw isah abibinan hi’itin.
8 Thượng Đế đã giao cho Phia-rơ chức sứ đồ cho người Do-thái và Ngài giao cho tôi nhiệm vụ làm sứ đồ cho những người không phải Do-thái.
8 God ana fairamaim Peter tur abarayan matar Jew sabuw wanawanahimaim bowabow na’atube God ana fair itu tur abarayan amatar Ufun Sabuw wanawanahimaim abowabow.
9 Gia-cơ, Phia-rơ và Giăng, hình như là các cột trụ, hiểu rằng Thượng Đế đã cho tôi ân phúc đặc biệt nầy nên họ chấp nhận tôi và Ba-na-ba. Họ bắt tay thân thiện và thỏa thuận rằng họ sẽ đi đến với người Do-thái còn chúng tôi sẽ đi đến với người không phải Do-thái.
9 James, Peter, John baitumatumayah hai tutut, God ana bowabow ta ayu bowamih bitu hi’inan, imih ayu Barnabas airi umai hibow ai’ofbonen etei ai basit. Ayu Barnabas airi Ufun Sabuw wanawanahimaim ana bow naatu i Jew sabuw wanawanahimaim hinabow.
10 Họ khuyên chúng tôi nên nhớ đến người nghèo—điều mà chính tôi cũng rất muốn làm.
10 Naatu hai baifefeyan i mi’itube hai kou’ayomaim sabuw yababan wairafih atanuhih baibais atitih naatu nati sawar i ayu sinafumih akokok hio.
11 Lúc Phia-rơ đến An-ti-ốt, tôi thẳng thắn trách ông tận mặt vì ông đã làm sai.
11 Baise Peter na Antioch binanawan ana maramaim, abisa biwa’an kakaf isan sabuw nahifunik yumatanamaim agam au.
12 Vì trước khi những người từ sứ đồ Gia-cơ sai đến An-ti-ốt thì Phia-rơ ăn chung với những người không phải Do-thái. Nhưng lúc họ đến thì Phia-rơ thôi không ăn chung nữa và đứng riêng ra vì ông sợ mấy người Do-thái.
12 Anayabin James orot afa men biyafarih ana veya i nanamaim Ufun Sabuw iyab baitumatumayah himamatar, Peter wanawanah run bairi hima hi’aa hitomatom. Baise orot James iyafarih hin hititit ufunamaim Peter taitin ihamiyih mataweyan, anayabin sabuw iyab ar kanabih afuw isan hai baibasit ma’am isah bir.
13 Như thế rõ ràng Phia-rơ là người đạo đức giả. Những tín hữu Do-thái khác cũng vậy. Đến nỗi Ba-na-ba cũng bị lôi cuốn mà giả đạo đức giống như họ.
13 Peter ana rerekab turin Jew baitumatumayah hibai hikofan hirerekab, Barnabas itih run i auman rerekab.
14 Khi thấy họ không đi theo sự thật của Tin Mừng, tôi thẳng thắn trách Phia-rơ trước mặt mọi người rằng, “Anh Phia-rơ à, anh là người Do-thái mà anh không sống theo lối Do-thái. Anh sống như những người không phải Do-thái. Thế tại sao anh lại ép những người không phải Do-thái sống theo kiểu Do-thái?”
14 Ayu ai’itih ana veya hai ef i hiwas sa’ir men Tur Gewasin eo’omaim hinan, imih ayu sabuw etei nahimaim Peter au, “O i Jew orot, baise ama i Ufun Sabuw hai ma’abe kuma’am, men Jew sabuw hai ma’abe kuma’am, naatu boro mi’itube Ufun Sabuw inabonawiyih, Jew sabuw hai binanakwar hini’ufunun?”
15 Chúng ta khi sinh ra đã là người Do-thái rồi, chứ không phải là những người không phải Do-thái có tội.
15 It ata tufuw an i men iti Ufun Sabuw kakafih tarouw tao imaim tatufuwamih. Baise it ata tufuw an i Jew hai rara’ane tatufuw.
16 Tuy nhiên, chúng ta biết con người được trở nên công chính trước mặt Thượng Đế là nhờ tin nhận Chúa Giê-xu Cứu Thế chứ không phải nhờ vâng giữ luật pháp đâu. Cho nên chúng ta hãy đặt niềm tin nơi Chúa Giê-xu Cứu Thế để được công chính trước mặt Thượng Đế. Không ai được công chính trước mặt Thượng Đế bằng cách vâng giữ luật pháp cả.
16 Tanaso’ob orot yamutufurin na God biyan tit isan i men ofafaramaim eyayamutufurimih, baise baitumatum Jesu Keriso wanawananamaim. Imih it auman ata baitumatum Keriso Jesu wanawananamaim tanayai, saise baitumatum Keriso Jesu wanawananamaim boro nayamutufurit, men ofafaramaim nayamutufuritamih. Anayabin ofafar eo’omaim inasisinaf boro men nayamutufurimih.
17 Chúng ta là người Do-thái đến cùng Chúa Cứu Thế để được công chính trước mặt Thượng Đế, điều đó chứng tỏ rõ rằng chúng ta cũng là tội nhân. Như thế có phải Chúa Cứu Thế phục vụ tội lỗi sao? Không phải.
17 Keriso wanawananamaim yamutufurit isan ef tana nunuwet na’at, taiyuwit tana’i’itit i bowabow kakafin tasisinaf, kwanotanot Keriso bowabow kakafin ana kou’obowayan? En anababatun.
18 Nhưng nếu tôi dạy lại những điều mà tôi đã phá đổ thì tôi là kẻ phạm luật.
18 Ayu ofafar agurus re’er iban ana wowab maiye nayey na’at, nati ebiturobe ayu i ofafar asto’obenayan.
19 Luật pháp đã khiến tôi chết nhờ đó mà giải thoát tôi khỏi quyền lực nó để từ nay tôi sẽ sống cho Thượng Đế.
19 Anayabin ayu i ofafaramaim, ofafar e’asbunu amorob, saise God isan ata bow.
20 Tôi chịu đóng đinh vào thập tự giá với Chúa Cứu Thế. Bây giờ tuy tôi sống nhưng không phải là tôi sống nữa mà là Chúa Cứu Thế sống trong tôi. Tôi vẫn sống trong thân xác nhưng thật ra tôi sống bằng niềm tin vào Con Thượng Đế, Đấng đã yêu tôi và chịu chết để cứu tôi.
20 Ayu i Keriso airi onaf afe’en hi’onafi, imih iti i men ayu ama’am, baise Keriso wanawana’umaim ema’am. Yawas iti boun ama’am i God Natun a bitumitumimaim ama’am, anayabin ayu iyabuwu naatu ana yawas isou i’inuw.
21 Nói như thế không phải tôi gạt bỏ ân phúc Thượng Đế đâu. Trái lại, nếu nhờ luật pháp mà tôi được công chính trước mặt Thượng Đế thì việc Chúa Cứu Thế chịu chết là vô ích.
21 Ayu men karam God ana bosiyasiyar boro ana kwahir. Baise orot yait ofafaramaim yamutufurin na God biyan tit isan nasisinaf na’at, Keriso onaf afe’en momorob i boro yabin en.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Gálatas 2, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.