Gálatas 1
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Phao-lô, sứ đồ được chọn và được sai đi, không do loài người mà do Chúa Cứu Thế Giê-xu và Thượng Đế, Cha chúng ta, là Đấng khiến Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết.
1 Ayu Paul, iti bowabow isan i men orot maiyow hirubinu, o men orot maiyow ta iti bowabow itu’umih. Baise Jesu Keriso, naatu Tamat God Keriso morobone biyawas i ayu rubinu tur abarayan amatar.
2 Thư nầy cũng do những anh chị em thuộc gia đình Thượng Đế đang có mặt với tôi tại đây đồng viết.
2 Taituwa baitumatumayah iyab iti bairi ama’am, kwa ekaleisia nati Galasia wanawananamaim kwama’am etei a merar ayiy.
3 Nguyền xin ân phúc và bình an từ Thượng Đế, Cha chúng ta và từ Chúa Cứu Thế Giê-xu ở cùng anh chị em.
3 Manaw kabeber naatu tufuw Tamat God naatu ata Regah Jesu Keriso’one kwa etei isa nama.
4 Chúa Giê-xu đã hi sinh mạng sống Ngài vì tội chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi thế giới độc ác mà chúng ta hiện đang sống, theo như ý muốn của Thượng Đế, Cha chúng ta.
4 It iti boun tafaram ana kakafinamaim fatumit tama’ama baiyawasit isan, Keriso Tamat God fanan bai ana kokomaim sinaf biyan kwahir ra’iy na kakafinane botaitit.
5 Nguyền vinh hiển thuộc về Ngài đời đời. A-men.
5 Imih Tamat God tanabora’ara’ah wanatowan, wanatowan. Amen.
6 Do ân phúc của Chúa Cứu Thế Giê-xu, Thượng Đế đã gọi anh chị em làm dân Ngài. Cho nên tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy anh chị em vội vàng quay đi và tin theo một Tin Mừng khác.
6 Keriso ana manaw ana kabeberamaim God kwa ea’afi i men manin kwama naatu kwaihamiy tur ta kwabaib isan ayu aororsa’ir,
7 Thật ra chẳng có Tin Mừng nào khác đâu. Chỉ có những người gây hoang mang cho anh chị em đó thôi; họ muốn đánh tráo Tin Mừng của Chúa Cứu Thế.
7 nati tur i men kafa’imo tur gewasin. Iti ao anayabin sabuw afa i kwa ama tibi’afiy naatu a not tibikwakwaris, i tekokok kwa Keriso ana Tur Gewasinane hinabotaiti kwanatit.
8 Chúng tôi đã rao giảng Tin Mừng cho anh chị em. Cho nên nếu chúng tôi hoặc thiên sứ nào trên trời rao giảng cho anh chị em một Tin Mừng nào khác thì chúng tôi đáng rủa!
8 Baise aki o tounamatar ta marane tur aki abibinan nihamiy nabinamaim nabibinan na’at, gewasin nati orot i kwanihamiy nan wanatowan ana baimakiy nab.
9 Tôi vừa nói rồi, bây giờ tôi lặp lại: Anh chị em đã tiếp nhận Tin Mừng. Nếu ai rao giảng cho anh chị em một Tin Mừng nào khác thì người đó đáng rủa!
9 Iti tur i marasika ao naatu iban ao maiye, orot babin ta nan tur ta gewasin men Tur Gewasin iti kwanowar kwabitumatum na’atube nabibinan na’at, nati orot i gewasin kwanihamiy nan wanatowan ana baimakiy nab.
10 Anh chị em có nghĩ rằng tôi tìm cách làm cho người khác chấp nhận tôi không?—Không, nếu tôi chỉ muốn làm vừa lòng người đời thì tôi không phải là tôi tớ của Chúa Cứu Thế.
10 Ayu i men kafa’imo sabuw hai yasisir isan asisinafumih, en anababatun. Ayu akokok i God aniyasisir. Kwanotanot ayu asisinaftobon sabuw hiniyasisir? Ayu sabuw baiyasisir isan ana sisinaf na’at, ayu i men Keriso ana akir wairafin.
11 Thưa anh chị em, tôi muốn anh chị em biết rằng Tin Mừng mà tôi rao giảng cho anh chị em chẳng phải do con người bịa đặt đâu.
11 Taitu akokok anao kwanaso’ob, iti Tur Gewasin abibinan i men orot hai notamaim himatarimih.
12 Tôi không hề nhận Tin Mừng ấy từ người nào, cũng không ai dạy tôi Tin Mừng ấy, nhưng Chúa Cứu Thế Giê-xu đã tỏ bày cho tôi.
12 Naatu men orot ta biyanane abaimih, o men yait i’obaiyu’umih baise Jesu Keriso akisinamo i’obaiyu.
13 Anh chị em đã nghe nói về cuộc đời của tôi trước kia trong đạo Do-thái. Tôi tàn phá hội thánh của Thượng Đế và tìm đủ mọi cách để tiêu diệt hội ấy.
13 Ayu au yawas wan mi’itube Jew sabuw hai kwafirenamaim ama’am ana veya i kwaso’ob, naatu mi’itube God ana ekaleisia arab abi’a’afiy auman i kwaso’ob, auru men kafai kabeber ta ma’amih, asinaftobon ekaleisia ata gurus tasawar isan aiwa’an.
14 Trong việc học và tuân giữ các truyền thống của tổ tiên, tôi xuất sắc hơn mọi người.
14 Jew ata kwafiren wanawanan ayu ana ai ukwarin na’atube, naatu orot ayu bairi ai tufuw ta’imon wanawanahimaim ayu i abow me’at Jew ai kwafiren uwai’inah mi’itube hiyabunibun renan i abukikin.
15 Nhưng Thượng Đế đã có những chương trình đặc biệt cho tôi và chọn riêng tôi ra cho công việc Ngài ngay từ trước khi tôi chào đời. Qua ân phúc, Ngài đã gọi tôi
15 Baise God i taiyuwin ana manaw ana kabeberamaim ayu tufuwa’e’eka rubinu, naatu eafu i ana bowabow isan yasairu
16 và tỏ bày con Ngài cho tôi để tôi rao Tin Mừng của Ngài cho những người không phải Do-thái. Cho nên khi Thượng Đế gọi tôi thì tôi không cần hỏi ý kiến của bất cứ ai.
16 I Natun ayu isou iwa’an irerereb saise ayu Ufun Sabuw wanawanahimaim ata binan. Ayu men an orot ta biyanamaim binan abai,
17 Tôi cũng chẳng đi lên Giê-ru-sa-lem để gặp các vị làm sứ đồ trước tôi. Nhưng tôi lập tức đi qua vùng Á-rập và sau đó trở về Đa-mách.
17 o men an tur abarayah iyab ayu nou’umaim Jerusalem hima’am aitih baibais isan afefeyanih. Baise ayu i an tafaram Arabia arar yan atit imaibo aremor an Damascus bar merar atit.
18 Sau ba năm, tôi lên Giê-ru-sa-lem để làm quen với Phia-rơ và ở với ông mười lăm ngày.
18 Baitumatum abai ama kwamur tounu sasawar ufunamaim ana Jerusalem atit, Peter airi aidudur, nati’imaim fur rou’ab airi ama.
19 Trong thời gian ấy tôi cũng không gặp các sứ đồ nào khác ngoài Gia-cơ là em của Chúa.
19 Naatu nati’imaim anan tur abarayan orot ta men aitin, Regah Jesu tain James akisinamo aitin.
20 Thượng Đế biết rằng những lời tôi viết đây cho anh chị em không phải bịa đặt đâu.
20 Abisa akikirum i turobe, God so’ob ayu i men abifufuwen.
21 Sau đó tôi đi qua vùng Xy-ri và Xi-li-xi.
21 Nati ufunamaim ayu an tafaram Syria naatu Silisia wanawanahimaim efan ta sabuw ai nanawanih.
22 Các hội thánh của Chúa Cứu Thế ở miền Giu-đia cũng không hề gặp tôi.
22 Nati ana veya Judea wanawanan sabuw baitumatumayah ta’ita’imon ayu men himanamu biyah rabimih.
23 Họ chỉ nghe rằng: Người trước kia tàn hại chúng ta hiện nay đang rao giảng về niềm tin mà trước kia ông ta đã cố gắng tiêu diệt.
23 Baise sabuw afa hio, “Iti orot i marasika nati baitumatum isan it biyababan kakafin itit ea’asbunit, naatu sinaftobon baitumatum gurusin bai’enamih biwa’an, baise boun nati baitumatum isan ebibinan.”
24 Các tín hữu ấy ca ngợi Thượng Đế vì tôi.
24 Naatu God wabin hibora’ara’ah. Anayabin God ayu au yawas botabir.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Gálatas 1, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.