Filipenses 2
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Vậy nếu trong anh chị em có sự giục giã nào của Chúa Cứu Thế, nếu có sự an ủi nào trong tình yêu, nếu có sự san sẻ nào của Thánh Linh, nếu có tình yêu mến và thông cảm nào giữa anh chị em
1 Kwa ayawas Keriso wanawanan kwama’am imaim koufair ebit, ana yabowamaim ebi’afuti, Anunin ana kofaninamaim bairi kwabita’ay, gewasin kwasisinaf naatu ebiwan babani.
2 thì hãy làm cho tôi vui mừng hoàn toàn. Tôi xin anh chị em hãy đồng lòng, đồng tình yêu, đồng tư tưởng, đồng mục tiêu với nhau.
2 Imih ayu abifefeyani, akokok anot ta’imon namatar, a yabow itinin ta’imon, ayub nita’imon a dubir ta’imon kwanayai kwanabow saise ayu au yasisir nan na’asa’ub.
3 Đừng làm điều gì do lòng ích kỷ và tự phụ. Trái lại phải khiêm nhường, tôn trọng người khác hơn mình.
3 Men akokok kabat ana naniyan nabonawiy sawar hai yabih en isah nakura’ah kwani’o’orotomih, baise kwanayara’iyi taituwa hai gewasin i kwanabora’ah isan kwanao.
4 Đừng chỉ nghĩ đến ích lợi bản thân mà nên nghĩ đến lợi ích của người khác nữa.
4 Kwa ta’ita’imon men kwa a gewasin isan kwananuwetamih, baise taituwa hai gewasin isan kwananuwet.
5 Hãy có đồng tư tưởng như Chúa Cứu Thế Giê-xu.
5 i Keriso ananotabe kwananot.
6 Ngài vốn giống như Thượng Đế về mọi mặt, nhưng không xem sự bình đẳng mình với Thượng Đế là điều phải nắm giữ.
6 Keriso i God hairi hai itinin ta’imon.
7 Trái lại, Ngài đã từ bỏ ngôi sang trọng để lấy hình dạng tôi tớ, sinh ra làm người.
7 Nati efanin, i anakok etei’imak yara’iyen,
8 Và khi làm con người, Ngài rất khiêm nhường, hoàn toàn vâng phục Thượng Đế cho đến chết, đến nỗi bằng lòng chết trên thập tự giá.
8 ana itinin orot na’atube tufuw,
9 Vì thế nên Thượng Đế đã nâng Ngài lên địa vị cao tuyệt đỉnh, ban cho Ngài danh cao hơn hết mọi danh
9 Nati isan God bai efan auyomtoro’ot itin, naatu wabin bitin i wab etei natabirih.
10 để hễ khi nghe đến danh Chúa Giê-xu, thì mọi đầu gối đều quì xuống—mọi người trên trời, trên đất, dưới đất
10 Imih, sabuw tutufin etei,
11 và mọi lưỡi đều xưng nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu là Chúa để mang vinh hiển về cho Thượng Đế là Cha.
11 Tamat God aiwob hinitin wabin hinabora’ara’ah,
12 Cho nên anh chị em yêu dấu, anh chị em đã luôn luôn vâng theo lời Chúa khi tôi có mặt thì khi tôi vắng mặt anh chị em lại càng nên làm hơn nữa. Hãy cố gắng sống sao cho xứng đáng với ơn cứu rỗi của Chúa ban cho anh chị em trong tinh thần kính sợ Ngài hoàn toàn
12 Isan imih au ofonah, bairi tama’am ana veya mar etei fanau kwabaib na’atube boun yumatau kwaboboyouw ana veya fanau kwanab. Naatu bir kakaf auman a yawas kwabaib isan kwana’onofar, kwanabow a yawas yomanin kwana’asa’ub.
13 vì Thượng Đế là Đấng đang hành động trong anh chị em sẽ cho anh chị em ước muốn và khả năng thực hiện điều đẹp lòng Ngài.
13 Anayabin God i mar etei kwa wanawananamaim ebowabow, saise i boro kwa nakumamat i ana kokomaim kwanabow asinaf gewasih yayakitifuw kwana’as’obow. Menatan i anakok kwanabow kwanan.
14 Làm việc gì cũng đừng nên phàn nàn và cãi vã
14 Sawar etei kwasisinaf i men eregamin naatu osukwaraben auman kwanasinafumih.
15 để anh chị em được trong sạch, làm con cái toàn thiện của Thượng Đế trong khi đang sống giữa thế hệ gian tà nầy. Hãy chiếu rọi như sao sáng giữa thế gian sa đọa
15 Saife kwa boro aur ubar en, uhew bitan God natunatun aurih kakafin en, sasouwi na’atube tafaram sabuw kakafih tenagogor wanawanahimaim kwanama. Naatu daman na’atube maramaim kwanakusisiar.
16 khi anh chị em đưa ra bài học sống cho họ, tôi sẽ hãnh diện về anh chị em khi Chúa Cứu Thế trở lại vì công khó của tôi không uổng phí. Tôi đã chạy đua và thắng cuộc.
16 Naatu umamaim yawas ana tur kwanabotan, saise Keriso ana Veya’amaim ayu boro anao ra’ara’at anayabin ayu abow rarou’u bababan i men yabin enamih.
17 Dù tôi phải lấy huyết mình mà rưới lên của lễ của anh chị em tôi cũng sẵn lòng và vui mừng với anh chị em.
17 Kwa a baitumatum sibor na’atube kwanayai God isan kwanabowabow ayu au rara kwa asibor tafanamaim nasuwa nare’er, ayu i boro kwa etei isa aniyasisir men kikimin ta.
18 Anh chị em cũng nên vui chung với tôi.
18 Naatu kwa auman kwanakawasa ayu bairit taniyasisir.
19 Tôi hi vọng rằng nhờ Chúa tôi sẽ sớm gởi Ti-mô-thê đến thăm anh chị em để tôi được giục giã khi nghe tin tức về anh chị em.
19 Ayu anotanot Regah Jesu au not nabibasit na’at Timothy boro’omo kwa isa aniyun nan, saise kwa a tur nab nan nao ananonowar boro imaim nakumamatu au fair anab maiye.
20 Tôi không có ai khác giống như Ti-mô-thê là người đồng tâm tình với tôi, luôn luôn thật lòng lo nghĩ đến anh chị em.
20 Timothy ai’itin i men orot afa na’atube, i akisinamo kwa ama isan i enotanot gagamin maiyow.
21 Những người khác chỉ lo lợi riêng mình, không lo đến lợi ích của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
21 Iti ao anayabin, orot afa i taiyuwih hai gewasin akisin isan tenotanot, men Jesu Keriso ana bowabow baira’atin isan tenotanotamih.
22 Anh chị em đã biết tấm lòng của Ti-mô-thê ra sao rồi. Anh đã phục vụ chung với tôi trong công tác rao Tin Mừng, như con phục vụ cha.
22 Baise Timothy ana bowabowamaim biturobe i kwa kwaso’ob. Orot natun hairi tita’imon tebowabow na’atube ayu natu Timothy airi ai baibaisbonen tur gewasin isan abowabow.
23 Tôi mong sớm gởi Ti-mô-thê đến thăm anh chị em sau khi tôi biết rõ tình trạng của tôi.
23 Isan imih anotanot ayu isou mi’itube hina’o na’at Timothy boro aniyun nan kwa ninanawani.
24 Tôi tin rằng nhờ Chúa giúp tôi sẽ sớm đến thăm anh chị em.
24 Naatu abitumatum Regah wabinamaim ayu taiyuwu boro anan aninanawan ana’iti.
25 Tôi cũng nghĩ cần sai Ép-ba-phô-đai đến cùng anh chị em. Anh ấy là anh em của tôi, bạn đồng công, và đồng chiến đấu, đại diện của anh chị em để lo cho tôi.
25 Baise boun Epafaroditas ayu taiu, na’atube bow turou, tur gewasin ana baiyowayan orot gewasin, naatu kwa a tur bow remorayan, kwaiyafar na ayu bibaisu isan i anotanot ana ef nama’am na’at boro aniyafar maiye kwa isan nan.
26 Tôi gởi anh về vì anh rất muốn gặp lại anh chị em. Anh rất lo vì anh chị em nghe tin anh bị đau.
26 Anayabin kwa ayumat itinin isan ma ekakaibababan, naatu sawow inu’in ana tur kwanonowar isan ana yababan ra’at.
27 Thật vậy, anh bị đau nặng gần chết nhưng Thượng Đế đã tỏ lòng nhân ái đối với anh và cả với tôi nữa để tôi khỏi phải buồn thêm.
27 Tur anababatun i sawow kafa’imo tamorob, baise God kabibir yawas itin, men i akisin baise ayu auman kabibiru, anayabin i men kok boro au yababan tafan taya’abar atarerey ati’akir.
28 Nên tôi sốt sắng mà gởi anh về cùng anh chị em để khi gặp lại, anh chị em sẽ vui mừng và tôi cũng sẽ khỏi phải lo lắng.
28 Isan imih ayu au naniyan gagamin i akokok aniyafar kwa isa nan, saise ana yumat kwana’itin maiye kwaniyasisir, naatu ayu au yababan nasawar.
29 Hãy niềm nở tiếp đón anh trong Chúa. Hãy tôn trọng những người như thế.
29 Regah wabinamaim kwaniyasisir ana merar kwanay kwanab, orot gagamih hai merar kwayi kwarusagiyih kwabubuwih na’atube.
30 Anh ta suýt thiệt mạng vì công việc Chúa. Chính anh đã liều mình giúp đỡ tôi trong khi anh chị em không làm gì được.
30 Anayabin Keriso ana bowabow isan kafa’imo tamorob, ana yawas kwahir kwa ayu kwatibibaisu efanin ayu ibaisu.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Filipenses 2, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.