Êxodo 16

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs ARA

Sair da comparação
ARA Almeida Revista e Atualizada 1993
1 Toàn thể cộng đồng Ít-ra-en rời Ê-lim đi đến sa mạc Xin, nằm giữa Ê-lim và Si-nai, vào ngày mười lăm tháng thứ nhì sau khi ra khỏi Ai-cập.
1 Partiram de Elim, e toda a congregação dos filhos de Israel veio para o deserto de Sim, que está entre Elim e Sinai, aos quinze dias do segundo mês, depois que saíram da terra do Egito.
2 Lúc đó toàn dân Ít-ra-en oán trách Mô-se và A-rôn trong sa mạc.
2 Toda a congregação dos filhos de Israel murmurou contra Moisés e Arão no deserto;
3 Họ bảo hai người, “Chẳng thà CHÚA giết chúng tôi trong xứ Ai-cập còn hơn. Ít ra ở đó chúng tôi có thịt và thức ăn tha hồ. Nhưng hai ông mang chúng tôi vào sa mạc nầy để chết đói.”
3 disseram-lhes os filhos de Israel: Quem nos dera tivéssemos morrido pela mão do Senhor , na terra do Egito, quando estávamos sentados junto às panelas de carne e comíamos pão a fartar! Pois nos trouxestes a este deserto, para matardes de fome toda esta multidão.
4 CHÚA liền bảo Mô-se, “Ta sẽ khiến thức ăn từ trời rơi xuống trên các ngươi. Mỗi ngày mọi người phải đi ra lượm thức ăn đủ cho ngày đó. Ta muốn xem dân chúng có vâng theo lời ta dạy hay không.
4 Então, disse o Senhor a Moisés: Eis que vos farei chover do céu pão, e o povo sairá e colherá diariamente a porção para cada dia, para que eu ponha à prova se anda na minha lei ou não.
5 Tuy nhiên ngày thứ sáu mỗi tuần, họ có thể lượm gấp đôi số lượng mỗi ngày. Rồi họ lấy đó mà chuẩn bị thức ăn.”
5 Dar-se-á que, ao sexto dia, prepararão o que colherem; e será o dobro do que colhem cada dia.
6 Vậy Mô-se và A-rôn bảo lại với dân chúng: “Chiều nay các ngươi sẽ biết rằng CHÚA là Đấng mang các ngươi ra khỏi Ai-cập.
6 Então, disse Moisés e Arão a todos os filhos de Israel: à tarde, sabereis que foi o Senhor quem vos tirou da terra do Egito,
7 Sáng mai các ngươi sẽ thấy sự vinh hiển của CHÚA, vì Ngài đã nghe lời các ngươi oán trách Ngài. Chúng tôi chẳng là gì cả, nên không phải các ngươi oán trách chúng tôi mà là oán trách CHÚA.”
7 e, pela manhã, vereis a glória do Senhor , porquanto ouviu as vossas murmurações; pois quem somos nós, para que murmureis contra nós?
8 Mô-se dặn tiếp, “Mỗi chiều, CHÚA sẽ ban thịt cho các ngươi, và mỗi sáng Ngài sẽ cấp bánh cho các ngươi vô hạn định, vì Ngài đã nghe các ngươi oán trách Ngài. Không phải các ngươi oán trách chúng tôi vì chúng tôi có ra gì đâu, nhưng các ngươi oán trách CHÚA.”
8 Prosseguiu Moisés: Será isso quando o Senhor , à tarde, vos der carne para comer e, pela manhã, pão que vos farte, porquanto o Senhor ouviu as vossas murmurações, com que vos queixais contra ele; pois quem somos nós? As vossas murmurações não são contra nós, e sim contra o Senhor .
9 Rồi Mô-se bảo A-rôn, “Anh hãy bảo toàn thể cộng đồng Ít-ra-en như sau, ‘Hãy tập họp trước mặt CHÚA vì Ngài đã nghe các ngươi oán trách.’”
9 Disse Moisés a Arão: Dize a toda a congregação dos filhos de Israel: Chegai-vos à presença do Senhor , pois ouviu as vossas murmurações.
10 Trong khi A-rôn đang nói chuyện với cộng đồng Ít-ra-en, họ nhìn về phía sa mạc thì thấy vinh hiển của CHÚA hiện ra trong đám mây.
10 Quando Arão falava a toda a congregação dos filhos de Israel, olharam para o deserto, e eis que a glória do Senhor apareceu na nuvem.
11 CHÚA bảo Mô-se,
11 E o Senhor disse a Moisés:
12 “Ta đã nghe lời oán trách của dân Ít-ra-en. Nên con hãy bảo họ, ‘Lúc chạng vạng các ngươi sẽ ăn thịt, mỗi sáng các ngươi tha hồ ăn bánh. Rồi các ngươi sẽ biết ta là CHÚA, Thượng Đế các ngươi.’”
12 Tenho ouvido as murmurações dos filhos de Israel; dize-lhes: Ao crepúsculo da tarde, comereis carne, e, pela manhã, vos fartareis de pão, e sabereis que eu sou o Senhor , vosso Deus.
13 Chiều hôm đó chim cút bay đến phủ đầy cả doanh trại, rồi buổi sáng sương mai thấm ướt quanh trại.
13 À tarde, subiram codornizes e cobriram o arraial; pela manhã, jazia o orvalho ao redor do arraial.
14 Khi lớp sương tan đi để lại những lớp mỏng giống như nước đá trên mặt đất.
14 E, quando se evaporou o orvalho que caíra, na superfície do deserto restava uma coisa fina e semelhante a escamas, fina como a geada sobre a terra.
15 Khi người Ít-ra-en thấy thì hỏi nhau, “Cái gì vậy?” vì họ không biết nó là cái gì. Nên Mô-se bảo họ: Đây là bánh mà CHÚA cho các ngươi ăn.
15 Vendo-a os filhos de Israel, disseram uns aos outros: Que é isto? Pois não sabiam o que era. Disse-lhes Moisés: Isto é o pão que o Senhor vos dá para vosso alimento.
16 CHÚA đã dặn, “Mỗi người trong các ngươi hãy lượm đủ phần ăn của mình, tức khoảng hai lít cho mỗi người trong gia đình.”
16 Eis o que o Senhor vos ordenou: Colhei disso cada um segundo o que pode comer, um gômer por cabeça, segundo o número de vossas pessoas; cada um tomará para os que se acharem na sua tenda.
17 Vậy dân Ít-ra-en làm theo như thế; người lượm nhiều, người lượm ít.
17 Assim o fizeram os filhos de Israel; e colheram, uns, mais, outros, menos.
18 Rồi họ đong. Người lượm nhiều không nhận quá, còn người lượm ít cũng không thiếu hụt. Mỗi người lượm đủ lượng cần dùng cho mình.
18 Porém, medindo-o com o gômer, não sobejava ao que colhera muito, nem faltava ao que colhera pouco, pois colheram cada um quanto podia comer.
19 Mô-se bảo họ, “Đừng giữ gì lại cho đến sáng mai.”
19 Disse-lhes Moisés: Ninguém deixe dele para a manhã seguinte.
20 Nhưng một số người không nghe Mô-se. Họ để dành một ít đặng sáng hôm sau ăn. Món đó hóa ra dòi bọ và xông lên mùi hôi thối. Mô-se nổi giận cùng mấy người đó.
20 Eles, porém, não deram ouvidos a Moisés, e alguns deixaram do maná para a manhã seguinte; porém deu bichos e cheirava mal. E Moisés se indignou contra eles.
21 Mỗi sáng ai nấy lượm đủ thức ăn cho mình. Nhưng khi mặt trời mọc lên thì vật đó tan đi.
21 Colhiam-no, pois, manhã após manhã, cada um quanto podia comer; porque, em vindo o calor, se derretia.
22 Đến ngày thứ sáu dân chúng lượm gấp đôi, mỗi người bốn lít. Các lãnh tụ cộng đồng đến thuật lại cho Mô-se hay,
22 Ao sexto dia, colheram pão em dobro, dois gômeres para cada um; e os principais da congregação vieram e contaram-no a Moisés.
23 ông trả lời, “Đó là điều CHÚA căn dặn vì mai là ngày Sa-bát, ngày thánh để nghỉ ngơi cho CHÚA. Hôm nay các ngươi muốn nấu nướng gì cũng được. Thức ăn còn dư thì có thể để đến sáng mai.”
23 Respondeu-lhes ele: Isto é o que disse o Senhor : Amanhã é repouso, o santo sábado do Senhor ; o que quiserdes cozer no forno, cozei-o, e o que quiserdes cozer em água, cozei-o em água; e tudo o que sobrar separai, guardando para a manhã seguinte.
24 Vì thế dân chúng để dành lại đến sáng hôm sau như Mô-se dặn. Món ăn đó không bị hôi thối hay hóa dòi.
24 E guardaram-no até pela manhã seguinte, como Moisés ordenara; e não cheirou mal, nem deu bichos.
25 Mô-se bảo dân chúng, “Hãy ăn thức ăn các ngươi lượm hôm qua. Hôm nay là ngày Sa-bát, ngày nghỉ ngơi của CHÚA; các ngươi sẽ không tìm ra món ăn đó trong đồng hôm nay đâu.
25 Então, disse Moisés: Comei-o hoje, porquanto o sábado é do Senhor ; hoje, não o achareis no campo.
26 Các ngươi lượm thức ăn trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày Sa-bát. Trong ngày đó sẽ không có thức ăn nào trên mặt đất.”
26 Seis dias o colhereis, mas o sétimo dia é o sábado; nele, não haverá.
27 Vào ngày thứ bảy có mấy người đi ra lượm thức ăn nhưng chẳng tìm được gì hết.
27 Ao sétimo dia, saíram alguns do povo para o colher, porém não o acharam.
28 CHÚA liền bảo Mô-se, “Các ngươi sẽ bất tuân huấn lệnh ta cho đến bao giờ?
28 Então, disse o Senhor a Moisés: Até quando recusareis guardar os meus mandamentos e as minhas leis?
29 Nầy, CHÚA đã lập nên ngày Sa-bát để các ngươi nghỉ ngơi. Nên ngày thứ sáu CHÚA ban cho các ngươi thức ăn đủ hai ngày, nhưng đến ngày thứ bảy, các ngươi phải nghỉ. Không đi đâu cả.”
29 Considerai que o Senhor vos deu o sábado; por isso, ele, no sexto dia, vos dá pão para dois dias; cada um fique onde está, ninguém saia do seu lugar no sétimo dia.
30 Vậy dân chúng nghỉ ngơi ngày thứ bảy.
30 Assim, descansou o povo no sétimo dia.
31 Dân Ít-ra-en gọi thức ăn đó là ma-na. Vì nó giống như hột ngò trắng, ăn giống như bánh kẹp pha mật ong.
31 Deu-lhe a casa de Israel o nome de maná; era como semente de coentro, branco e de sabor como bolos de mel.
32 Sau đó Mô-se bảo, “CHÚA phán, ‘Hãy để dành hai lít thức ăn nầy cho con cháu chúng ta. Để chúng nó thấy thức ăn ta cho các ngươi trong sa mạc khi ta mang các ngươi ra khỏi Ai-cập.’”
32 Disse Moisés: Esta é a palavra que o Senhor ordenou: Dele encherás um gômer e o guardarás para as vossas gerações, para que vejam o pão com que vos sustentei no deserto, quando vos tirei do Egito.
33 Mô-se bảo A-rôn, “Hãy lấy một cái hũ đổ ma-na đầy vào. Đặt hũ đó trước mặt CHÚA, để dành lưu lại cho con cháu các ngươi.”
33 Disse também Moisés a Arão: Toma um vaso, mete nele um gômer cheio de maná e coloca-o diante do Senhor , para guardar-se às vossas gerações.
34 Vậy A-rôn làm theo điều CHÚA dặn Mô-se. Ông để hũ đựng ma-na trước Hộp Giao Ước để giữ cho an toàn.
34 Como o Senhor ordenara a Moisés, assim Arão o colocou diante do Testemunho para o guardar.
35 Dân Ít-ra-en ăn ma-na trong 40 năm cho đến khi vào xứ họ định cư tức biên giới xứ Ca-na-an.
35 E comeram os filhos de Israel maná quarenta anos, até que entraram em terra habitada; comeram maná até que chegaram aos limites da terra de Canaã.
36 Lường họ dùng cho ma-na là hai lít, khoảng một phần mười ê-pha.
36 Gômer é a décima parte do efa.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Êxodo 16, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.