Efésios 6

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Con cái, hãy vâng lời cha mẹ như Chúa muốn, vì đó là điều phải.
1 Kek kwananowar, kwa i Regah natunatun imih ef ana gewasin i hinat tamat fanah kwanabosiyasiyar.Paul Tychicus ebiyafar|alt="Paul sending Tychicus" src="CN02071B.TIF" size="span" loc="Eph 6.1" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="6.1"
2 Mệnh lệnh có nói, “Hãy tôn kính cha mẹ ngươi.” Đó là mệnh lệnh đầu tiên có một lời hứa kèm theo:
2 Hinat tamat kwanakakafiyih, anayabin nati i o baiyunen tur wantoro’ot ana omatanen auman.
3 “thì mọi việc ngươi làm đều suông sẻ và ngươi sẽ được sống lâu trên đất.”
3 Saise a yawas i boro baigegewasin awan nakaratan, naatu a yawas iti tafaramamaim boro manin na’in kwanama kwaniyasisir.
4 Bậc làm cha, đừng chọc tức con cái mình nhưng hãy nuôi dạy chúng nó theo sự rèn luyện và giáo huấn của Chúa.
4 Kwa kek hinah tamah, a kek men kwanagam kwana’uwih kwanikwaniyih yah naso’aramih. Baise Kirisiyan ana bai’obaiyenamaim baikwatutunen kwanitih, naatu Regah ana turamaim kwanabonawiyih.
5 Kẻ tôi mọi, hãy vâng phục chủ mình trên đất, tỏ lòng kính sợ trong chân thật như vâng phục Chúa Cứu Thế.
5 Akirwairafi a tur ao’owen, a orot ukwarih tafaramamaim tekakaifi i kwanabiruwih naatu kwanakakafiyih fanah kwanab. Naatu dogor tutufin etei yasisir auman isah kwanabow, Keriso isan kwatabowabow na’atube.
6 Không những vâng phục khi chủ có mặt để làm vừa lòng người ấy, nhưng với tấm lòng chân thành, anh chị em phải làm theo điều Thượng Đế muốn, như nô lệ của Chúa Cứu Thế.
6 Men ti’i’iti ana veya akisin iti baifa’i isan kwanisnubanub kwanabowamih, baise kwa i Keriso ana akirwairafih imih dogor tutufin etei God ana kok kwanabow.
7 Hãy sốt sắng phục vụ, như phục vụ Chúa chứ không phải phục vụ loài người.
7 Kwanabow sunusunub a naniyan tutufin etei, yasisir auman kwabow, kwa i men orot isan kwabowabow, baise Regah isan kwabowabow.
8 Nên nhớ rằng Chúa là Đấng ban thưởng tương xứng cho mọi người làm điều thiện, dù là nô lệ hay tự do.
8 Anayabin kwa kwaso’ob orot babin etei bowabow gewasin tebowabow isan, Regah boro hai siwar nitih, basit o akirwairafi, o roufamen orot a siwar i boro inab.
9 Cũng vậy, kẻ làm chủ, phải đối xử tử tế với những người nô lệ của mình. Đừng đe dọa họ. Nên nhớ rằng cả họ lẫn anh chị em đều có chung một Chủ trên trời. Ngài đối xử với mọi người như nhau.
9 Kwa orot ukwarih auman ef ta’imon kwanasinaf, akirwairafih isah kwanigewasin naatu men kwanao birubiruwih. Kwanaso’ob kwa a akirwairafih bairi a Regah i ta’imon maramaim ema’am, naatu i orot babin etei ana fofoninamaim ebibatiyih.
10 Sau hết, anh chị em hãy mạnh mẽ trong quyền năng Chúa.
10 Taitu tuwai’inah, tur yomanin i iti. Regah wanawanan kwanarun ana fair kwanab, naatu i ana fairane kwa a fair kwanawowab nara’at.
11 Hãy trang bị mọi vũ khí của Thượng Đế để chống lại những âm mưu của ma quỉ.
11 Baiyow ana tafafaren sawar etei God bit i kwana’abur, saise Demon Mowan ana baifuwen nabikubibiruw karam boro kwanawasatan.
12 Vì cuộc chiến của chúng ta không phải là chống với loài người trên đất mà là chiến đấu chống mọi kẻ cầm quyền và các thế lực của thế gian tối tăm nầy, cùng với quyền lực tâm linh gian ác trên các từng trời.
12 Anayabin it i men iti tafaram orot babin afa bairi tabiyowamih, baise tounamatar kakafih gagub wanawanan tema’am bairi tabiyow. Demon hai nabatanayah, hai ukwarih, naatu afiy kakafih fairih iti tafaram ana guguminamaim tema’am bairi tabiyow.
13 Vì thế mà anh chị em phải mang đầy đủ khí giới và áo giáp của Thượng Đế, để trong thời của bọn gian ác anh chị em có thể đứng vững vàng. Và sau khi chiến đấu xong anh chị em vẫn đứng vững.
13 Imih God ana baibiyow sawar bounaika kwana’abur, imaibo Demon ana veya kakafin nan natitit, kwa i karam boro rakit ana ahay ana waf kwanahaiw. Naatu kwaniyow nan yomanin kwana’a’asa’ub ufunamaim boro men ura au’uf kwanabat.
14 Cho nên hãy đứng thật vững, thắt lưng bằng chân lý và bảo vệ ngực bằng nếp sống tốt đẹp.
14 Imih kwanabatkikin, turobe kwanab naiw a kikiramih kwanakik. Yawas mutufurin kwanab a beromih dogor kwanisinfafar,
15 Hãy mang giày bằng Tin Mừng bình an để giúp anh chị em đứng vững vàng.
15 naatu tufuw ana tur gewasin a baibiyonamih kwaniyoun kwanabat gewas kwanitfufun auna kwanan.
16 Ngoài ra hãy lấy thuẫn đức tin để ngăn chặn mọi tên lửa của Kẻ Ác.
16 Mar etei baitumatum a beromih kwanab, anayabin nati beromaim Demon Mowan ana ahay narob wairaf auman nitakir hinanununuw karam boro kwanasirabun.
17 Hãy đội mũ sắt bằng sự cứu rỗi và cầm gươm của Thánh Linh, tức là lời của Thượng Đế.
17 God yawas bit i kwanab a kowasamih arib kwanayara’ah, naatu God ana tur, Anun Kakafiyin bit i a kaiyomih kwanab.
18 Hãy thường xuyên dâng đủ thứ lời cầu nguyện trong Thánh Linh, nài xin những điều anh chị em cần. Hãy luôn luôn sẵn sàng, đừng bỏ cuộc, và cầu nguyện cho các con dân thánh của Chúa.
18 Sawar iti etei i yoyobanamaim kwanasinaf, God ana baibais isan kwanifefeyan, Anun Kakafiyin ebiyuni na’atube. Naatu sawar ta ta hinamamatar hai veya’amaim kwanayoyoban, mata toniwa’an, a yoyoban men kwanihamiy, mar etei God ana sabuw isah kwanayoyoban.
19 Cũng hãy cầu nguyện cho tôi để khi tôi giảng dạy, Thượng Đế sẽ cho tôi lời lẽ dạn dĩ khi trình bày những điều kín giấu của Tin Mừng.
19 Ayu auman isou kwanayoyoban, saise binan isan ana bobogaigiwas ana veya, God ana tur isou nirerereb anabinan, na’atube Tur Gewasin ana kirikirifot anaorereb natit, men ana birumih.
20 Tôi được sai rao truyền Tin Mừng nầy và dù hiện nay đang ở trong ngục tù, tôi vẫn rao giảng. Anh chị em hãy cầu nguyện để khi tôi rao giảng Tin Mừng thì tôi đầy lòng dạn dĩ theo nhiệm vụ của tôi.
20 Ayu i God ana bowayan orot iyafaru atit Tur Gewasin abibinan isan dibur ama’am. Baise abifefeyani isou kwanayoyoban saise fair anab Tur Gewasin ana binan sabuw hinanowar.
21 Tôi phái Ty-chi-cơ, anh em yêu dấu và là đầy tớ trung thành trong công việc Chúa, đến cùng anh chị em. Anh sẽ thuật cho anh chị em biết về tôi và tình hình của tôi.
21 Tychicus, taituwa ata yabow orot, naatu Regah ana akirwairafin orot gewasin ta, i nanan ana veya ayu abisa asisinaf ana tur etei boro i nao kwananowar kwanaso’ob.
22 Tôi phái anh đến là để anh chị em biết về tôi, và cũng để anh ấy có thể khích lệ anh chị em.
22 Anayabin nati isan kwa isa abiyafar, aki abisa iti’imaim asisinaf nao kwananowar naatu koufair nit.
23 Nguyền xin sự bình an và tình yêu cùng với đức tin từ Thượng Đế, Cha chúng ta và Chúa Giê-xu, Đấng Cứu Thế chúng ta ở cùng anh chị em.
23 Tamat God naatu ata Regah Jesu Keriso kwa Kirisiyan baitumatumayah etei tufuw, yabow naatu baitumatum auman nit kwanama.
24 Nguyền xin ân phúc ở cùng anh chị em, là những người yêu mến Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta với một tình yêu bất diệt.
24 God ana bosiyasiyar kwa iyab ata Regah Jesu Keriso kwabiyabuw, nati yabow isa nama wanatowan. Amen.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Efésios 6, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.