Efésios 5
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Anh chị em là con cái yêu dấu của Thượng Đế, vậy hãy trở nên giống như Ngài.
1 A bowabowamaim kwabowabow kwanasinaftobon God kwaniu’ur, anayabin kwa i God natunatun anababatun.
2 Hãy sống một cuộc đời yêu thương như Chúa Cứu Thế đã yêu chúng ta và hi sinh mạng sống Ngài cho chúng ta, để làm một sinh tế có hương thơm dâng lên cho Thượng Đế.
2 A yawas wanawanan taituwa isah i yabowamaim nabonawiyi kwaniyabuwih. Keriso iyabuwit taiyuwin biyan it ata bowabow kakafih isan sisibor na’atube. Naatu nati sibor yamurin i igewasin kwanekwan, imih God iyasisir gagamin maiyow.
3 Trong vòng anh chị em không nên phạm tội nhục dục, không được có hình thức gian ác hay tham lam nào. Những điều ấy không xứng hợp với thánh dân của Thượng Đế.
3 Kwa i God ana sabuw, imih men in baisesebar kwanekwan, o sinaf kwanekwan hai gubagub, o kabat wanawananamaim tama wab hitasu’ub hitao.
4 Ngoài ra anh chị em đừng nên nói tục, đừng phát ngôn bừa bãi và cũng đừng nói chuyện đùa dơ bẩn. Những điều ấy cũng không xứng hợp cho anh chị em. Trái lại hãy cảm tạ Thượng Đế.
4 Binanakwar kakafih, baifufuwen tur, bai’iyab kwanekwan, tur kakafih i men awamaim tama, nati sawar efanih kwa i God merarayow kwatitin.
5 Anh chị em nên biết rõ điều nầy: Không một người nào phạm tội nhục dục, làm ác hay tham lam mà được dự phần trong nước Chúa Cứu Thế và Nước Trời đâu. Ai tham lam tức là đang hầu việc thần giả.
5 Sawar etei isah i kwa kwaso’ob, orot yait ebisesebar kwanekwan, kakafih hai gubagub auman ema’am, o ebikabat, nati orot boro men Keriso naatu God ana aiwob nowanamih nab. Anayabin orot kabat mowan i turobe umataratar ana bowayan naatu iti tafaram hai sawar ekwakwafiren.
6 Đừng để ai lấy lời giả dối phỉnh dỗ anh chị em, vì đó là những điều đưa đến cơn thịnh nộ của Thượng Đế cho những người chống nghịch Ngài.
6 Men yait ta baifuwen turamaim kwa nifufuwimih, anayabin sawar iti isan sabuw iyab tibifanasair God ana yaso’ar boro tafahimaim nare.
7 Vì thế, anh chị em chớ nên giao du với họ.
7 Isan imih sabuw iti na’atube tisisinaf men bairi kwanita’ayomih.
8 Trước kia anh chị em đầy dẫy sự tối tăm, nhưng nay được đầy dẫy ánh sáng của Chúa Cứu Thế, nên hãy sống như con cái của ánh sáng.
8 Marasika kwa ayawas i nati na’atube guguminamaim kwama’am, baise boun kwa i kwana Regah ana sabuw kwamatar marakawamaim kwama’am. Imih sabuw iyab marakawamaim tema’am na’atube kwanama.
9 Vì ánh sáng mang lại đủ thứ điều lành, cuộc sống tốt đẹp và chân thật.
9 Anayabin iti marakaw kwa wanawananamaim ema’am ana ro’on i boro gewasin nakutait. Ef mutufurin nakutait, naatu turobe nakutait.
10 Hãy tìm biết những điều làm đẹp lòng Chúa.
10 Kwanasinaftobon sawar abisa Regah isan ebiyasisir i kwananuwih.
11 Đừng tham dự vào những việc làm lén lút là những việc không ra gì, nhưng hãy phơi bày sự thật xấu xa của những hành động ấy.
11 Naatu gugumin hai ro’on kakafih men kwanabow, baise kwanasinaftobon nati ro’oh kakafih i kwanabow hinatit hinirerereb.
12 Vì chỉ nói đến những điều họ làm lén lút cũng đủ xấu hổ rồi.
12 Anayabin abisa wa’iwa’iramaim hisisinaf bain tit rererebamaim o isan i biya’ohow gagamin maiyow.
13 Còn ánh sáng khiến chúng ta dễ dàng nhìn thấy mọi vật,
13 Baise sawar iti etei hinan marakawamaim hinatitit ana veya, boro bebeyan ni’obaiyi iti sawar i anababatun kakafih.
14 và những gì nhìn thấy được là nhờ ánh sáng. Vì thế mà có lời viết,
14 Anayabin marakawamaim sawar etei bow hina hirerereb. Ana’an nati isan tur iti eo, “Inuyan kumisir, morobone kumisir! Naatu Keriso tafamaim nakusisiar.”
15 Cho nên, hãy cẩn thận về nếp sống của anh chị em. Đừng sống theo kiểu những người kém khôn ngoan nhưng hãy sống như người khôn ngoan.
15 Mata toniwa’an anot hinarerekab, kwanakaifi gewas kwanama, men koko’aw hai ma kwanama’amih,
16 Hãy dùng mọi dịp tiện để làm điều lành vì bây giờ là thời kỳ gian ác.
16 men yait ta a veya inafafuw kwaniyimih, anayabin mar iti boun i kakafin ana veya.
17 Cho nên đừng sống như người dại dột, nhưng hãy tìm biết ý muốn Chúa.
17 Isan imih kwa men kwanikoko’aw, baise Regah ana kok abisa sinafumih ekokok i kwanaso’ob kwanasinaf.
18 Đừng say rượu vì rượu làm hư hỏng anh chị em, nhưng hãy đầy dẫy Thánh Linh.
18 Wine men gagamin na’in kwanatom, anayabin nati sawar i yawas bai’afiyenayan, baise nati efanin Anun kakafiyin niwani ayawas nabonawiy gewas.
19 Hãy xướng họa với nhau qua thi thiên, thánh ca, bài hát thiêng liêng, âm nhạc trong lòng mà dâng lên cho Chúa.
19 Naatu nati’imaim ew kwanatabor, naatu ewamaim kwanatabor taituwa hai tur kwana’owen, dinab ewamaim sika wanawanan na’in natawiniwin dogoromaim Regah kwanarutabur.
20 Hãy luôn luôn cảm tạ Thượng Đế, Cha chúng ta về mọi điều, nhân danh Đấng Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta.
20 Ata Regah Jesu Keriso wabinamaim sawar tutufin etei isah mar etei Tamat God merarayow kwanitin.
21 Hãy thuận phục lẫn nhau vì anh chị em kính sợ Chúa Cứu Thế.
21 O taiyuw a’of babanamaim inayara’iyi, anayabin nati i o akakaf Keriso isan.
22 Người làm vợ, hãy thuận phục chồng như vâng phục Chúa
22 Baibin kwanayara’iyi a’aaw babahimaim kwanama, Regah isan kwayara’iyi babanamaim kwama’am na’atube.
23 vì chồng là đầu vợ như Chúa Cứu Thế là đầu hội thánh. Ngài là Chúa Cứu Thế của thân, tức hội thánh.
23 Anayabin orot i babin isan ebi’ukwarin, Keriso ekaleisia isan ebi’ukwarin na’atube. Naatu Keriso biyan i ekaleisia ana baiyawasenayan.
24 Như hội thánh vâng phục Chúa Cứu Thế ra sao thì vợ cũng phải vâng phục chồng mình trong mọi sự.
24 Ekaleisia yara’iy Keriso babanamaim ema’ama na’atube, kwa baibin kwanayariyi biya tutufin etei orot kwanitin.
25 Người làm chồng, hãy yêu vợ mình như Chúa Cứu Thế yêu hội thánh và hi sinh mạng sống mình
25 Kwa orot, a’aaw baibin kwaniyabuwih gewas, anayabin Keriso ekaleisia iyabuw ana yawas i’inuw isan morob,
26 khiến hội thuộc về Thượng Đế. Ngài dùng lời phán làm cho hội được tinh sạch, sau khi đã rửa bằng nước.
26 saise ekaleisia taya’asair harewamaim tikifuw kakafiyin tamatar. Naatu ana turamaim takusouw
27 Ngài đã chịu chết để có thể nhận hội thánh làm nàng dâu của mình với đầy đủ mọi vẻ đẹp. Ngài đã hi sinh chính mình để sửa soạn hội thánh được hoàn toàn tinh sạch, không dấu bợn, chẳng tì vết, không khuyết điểm hầu cho hội được thánh hóa và không chỗ chê trách được.
27 biyan itinin gewasin, mamarin sa’er bitan aurin kato en, naatu butukutukuwan itinin ta ta men tama. Baise kakafiyin naatu uhew bitan nanamaim tima’an nowan tamatar tama.
28 Cũng vậy, chồng phải yêu vợ như chính thân mình. Người nào yêu vợ tức là yêu thân mình.
28 Ef nati na’atube kwa orot a’aaw baibin kwaniyabuwih, kwa taiyuw biya kwabiyabuw na’atube, orot yait aawan ebiyabuw i taiyuwin isan ebiyabow.
29 Không ai ghét thân mình nhưng nuôi nấng và chăm sóc nó cẩn thận. Đó chính là điều Chúa Cứu Thế làm cho hội thánh,
29 Orot babin yait men ta taiyuwin biyan ebifa’ifa’imih, baise biyan ebituw naatu ekakaif gewas. Keriso ana ekaleisia isan isisinaf na’atube.
30 vì chúng ta là chi thể của thân Ngài.
30 Anayabin it i Keriso biyan ana kou’ay turin.
31 Thánh Kinh viết, “Cho nên người đàn ông sẽ rời cha mẹ mà kết hiệp với vợ mình, hai người sẽ trở thành một thân.”
31 “Ana’an iti isan orot boro hinah tamah nihamiyih aawan hairi hinita’imon, naatu biyah rou’ab baise hinan biyah ta’imon namatar.”
32 Điều mầu nhiệm nầy rất quan trọng, nhưng tôi nói về hội thánh và Chúa Cứu Thế.
32 Iti tur i buriburin anababatun, baise tur iti’imaim ayai ao saise Keriso naatu ekaleisia hairi hai bowabow kwataso’ob.
33 Mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính thân mình; còn vợ phải kính chồng.
33 Imih iban ao maiye, kwa oro’orot a’aaw baibin kwaniyabuwih, kwa taiyuw isa kwabiyabow na’atube, naatu kwa baibin a’aaw oro’orot kwanakakafiyih.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Efésios 5, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.