Efésios 4

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Tôi ngồi tù là vì Chúa. Thượng Đế đã chọn anh chị em làm dân Ngài, nên tôi khuyên anh chị em hãy ăn ở xứng đáng với đời sống mới mà Thượng Đế đã gọi anh chị em.
1 Ayu i Regah wabinamaim dibur arun ama’ama, imih kwa ao’ototofari, God ayawas ya’asair eaf kwana kwabaib imaim kwanama.
2 Bao giờ cũng phải khiêm nhường, hòa nhã, kiên nhẫn và chấp nhận lẫn nhau trong tình yêu.
2 Mar etei taiyuw kwanayara’iyi, kwanakakaf, yatenanub, yabowamaim taituwa kwanabuwih.
3 Anh chị em đã được buộc chặt với nhau do Thánh Linh, Đấng kết hợp chúng ta trong hòa bình, nên hãy cố gắng sống như thế.
3 Anun Kakafiyin buwi kwana bita’imoni i kwanasinaftobon a kou’ay nati i kwanabukikin tufuwamaim kwanama.
4 Chỉ có một thân, một Thánh Linh, một Thượng Đế, là Đấng đã gọi anh chị em để nhận một hi vọng.
4 Biyat i ta’imon, Anun Kakafiyin i ta’imon, God ea’afit i nuhifot ta’imon tabai,
5 Chỉ có một Chúa, một đức tin, một lễ báp-têm.
5 Regah i ta’imon, baitumatum i ta’imon, bapataito i ta’imon.
6 Chỉ có một Thượng Đế, là Cha của mọi loài. Ngài quản trị mọi loài, hiện diện khắp nơi và ở trong mọi loài.
6 Naatu God i ta’imon, sabuw tutufin etei’imak Tamat, naatu iti etei’imak ata ukwarin, Regah ta’imon, etei’imak wanawanatamaim ebowabow, naatu wanawanatamaim ema’am.
7 Chúa Cứu Thế đã ban cho mỗi người chúng ta một ân phúc đặc biệt theo quyết định của Ngài.
7 It ta’ita’imon manaw kabeberamaim Keriso ana usar bitit i ra’at naatu igewasin kwanekwan.
8 Vì thế mà Thánh Kinh đã viết,
8 Buk Atamaninamaim iti na’atube eo,
9 Thánh Kinh nói, “Ngài lên”; điều đó có nghĩa gì? Có nghĩa là trước hết Ngài đã phải xuống nơi đất thấp nầy.
9 Tur iti, “Yen Auyom.” Ana’an i iti, wantoro’ot i marane ra’iy, re anababatun me wanawanan run.
10 Cho nên, Chúa Giê-xu đã xuống, và Ngài cũng là Đấng vượt trên các từng trời để có thể đầy dẫy trong mọi loài.
10 Imih orot nati taiyuwin yara’iy re’er, nati orot ta’imon yen auyomtoro’ot tit, naatu mar ana hanef etei natabir rabon mar tafaram tutufin etei ana’itinin bai karatan.
11 Chúa Cứu Thế cũng đã ban ân phúc cho con người: Ngài lập người nầy làm sứ đồ, người kia làm nhà tiên tri, người khác rao giảng Tin Mừng, người khác nữa lo chăm sóc và dạy dỗ dân Chúa.
11 Naatu i taiyuwin siwar bow orot ta ta faramih, orot afa tur abarayah himatar, afa dinab tur faramayah himatar, afa binanuyah himatar, afa Kirisiyan hai bonawiyenayah himatar, naatu afa bai’obaiyenayah himatar,
12 Chúa Cứu Thế đã ban các ân phúc ấy để trang bị dân thánh của Thượng Đế trong công tác làm vững mạnh thân thể Ngài.
12 saise God ana sabuw tatabobuna’ih bowabow ana ef hitaso’ob. Naatu bowabow tataburiri tatabow Keriso biyan tatawowab tara’at tayen
13 Công tác đó phải tiếp tục cho tới khi tất cả chúng ta đều hiệp nhất trong đức tin và trong sự hiểu biết về Con Thượng Đế. Chúng ta phải trở nên người trưởng thành, càng ngày càng lớn lên cho đến khi chúng ta trở nên giống như Chúa Cứu Thế và đạt đến mức toàn thiện như Ngài.
13 tanan it etei ata baitumatum an ta’imon tamatar. Naatu God Natun ana kirikirifot tataso’ob gewas, wanawanat takwat Keriso ana tutufin tatab.
14 Lúc đó chúng ta sẽ không còn là trẻ con nữa. Chúng ta sẽ không còn bị xô đẩy như thuyền gặp sóng. Chúng ta sẽ không còn bị lung lạc bởi các giáo lý mới mà có kẻ muốn phỉnh dỗ chúng ta. Họ lập mưu và tìm thủ đoạn dẫn dụ người ta vào đường lầm lạc.
14 Saise it boro men kek na’atube tatama’am, sabuw baifufuwenayah hitan hitifufuwit ata baitumatum hitiyuwiyuwimih. Kotar yabat nane ebabin ebiyuwiyuwibe. Anayabin sabuw hai notamaim baifuwen tur afa himataren sabuw afa hifufuwih hinawiyih sa’ab tenan.
15 Trái lại, chúng ta nói ra chân lý bằng tình yêu và trở nên giống như Chúa Cứu Thế về mọi mặt, Ngài là đầu của thân thể.
15 En baise nati efanin, yabowamaim tur anababatun tanao, ef tata’ane ata orot ukwarin Keriso wanawananamaim tanawowabit tanayen.
16 Cả thân đều lệ thuộc vào Chúa Cứu Thế, mọi phần trong thân đều được kết hợp với nhau nhờ Ngài. Mỗi phần làm nhiệm vụ riêng để cho toàn thân được lớn mạnh trong tình yêu.
16 I ana bainakokomaim biyat tutufin etei bai na ikokofan wowab gewas. Naatu biyat hai bowabow Regah bitih na’atube tebowabow ana veya biyat i erara’at naatu yabowamaim ewowowab gewas.
17 Nhân danh Chúa, tôi khuyên anh chị em không nên sống theo kiểu người vô tín nữa. Tư tưởng họ thật vô dụng.
17 Regah ana onowatenamaim ayu kwa abimatnuwi, Eteni Sabuw tema’am na’atube men kwanama’amih, anayabin nati sabuw i hai not hikwaris koko’awabe tema’am.
18 Họ không muốn hiểu biết và cũng chẳng muốn nghe, nên họ không thể nào nhận được sự sống mà Thượng Đế ban cho.
18 Hai not etei i gugumin awan karatan, God ana yawasamaim i hitabaratait nabin anababatun tebatabat, anayabin ukwarih i hifokar naatu dogoroh hikabay.
19 Họ mất tất cả liêm sỉ và dùng đời mình đeo đuổi những việc vô luân. Họ thích làm điều ác.
19 Biya’ohow naniyan i men kafai hiso’ob, hai yawas tutufin etei kakafin nowanamih hitin bai susuw, naatu in sesebar teo’onofar.
20 Nhưng anh chị em đã học về Chúa Cứu Thế thì đừng theo nếp sống ấy.
20 Baise kwa i men iti na’atube hi’obaiyi kwana Keriso kwasu’ubimih.
21 Anh chị em đã nghe biết về Ngài và được dạy dỗ trong Ngài nên anh chị em đã học sự thật trong Chúa Giê-xu.
21 Kwa Keriso isan i hio kwanowar, naatu Turobe yawas gewasin Jesu wanawananamaim ema’ama isan i hi’obaiyi.
22 Anh chị em được dạy rằng phải từ bỏ con người cũ, tức từ bỏ nếp sống độc ác trước kia. Con người cũ đó đã hư hỏng rồi, vì đã bị lừa phỉnh bởi những ham muốn xấu xa.
22 Imih kanab atamanin nawiyi yawas kakafih, baifufuwen in kura’ara’ahi kwasinaf gugurusi, nati kanab atamanin i kwanikiya’ub kwanabosair.
23 Nhưng anh chị em đã được dạy là phải có tấm lòng mới và một tinh thần mới,
23 Dogor naatu a not etei i kwanabow kwaniwa’an boubuh hinamatar,
24 trở thành người mới, được tạo nên giống như Thượng Đế; tức trở thành thật tốt và thánh thiện.
24 naatu kanab boubun God ana’itininabe wowab yai inu’in i kwanab kwaniyoun, saise yawas anababatun, ana ef mutufor naatu kakafiyin boro imaim nirerereb.
25 Anh chị em hãy bỏ tính nói dối. Mỗi người hãy nói thật với nhau vì chúng ta đều là chi thể của cùng một thân.
25 Naatu baifufuwen i kwanihamiy, taituwa isah i turobe hai tur kwana’owen, anayabin it etei tana taita’imon Keriso biyan tamatar.
26 “Khi đang nóng giận chớ nên phạm tội”, và hãy nguôi giận trước khi mặt trời lặn.
26 Ya nasoso’ar na’at, men yaso’ar nabonawiyi bowabow kakafin inasinaf. Naatu men yaso’ar auman inama nan veya nare.
27 Đừng tạo cho ma quỉ cơ hội đánh bại anh chị em.
27 Men Demon Mowan veya nati’imaim initin narunamih.
28 Ai hay trộm cắp hãy thôi trộm cắp mà bắt đầu làm việc. Phải kiếm việc làm lương thiện để có thể giúp đỡ những người nghèo khó hơn mình.
28 Orot yait ebabain, i bain nihamiy naatu nabusuruf nabow, saise ma gewasin nab nama gewas. Naatu sabuw yababan wairafih nibaisih.
29 Khi nói, hãy tránh những lời lẽ làm tổn thương nhưng hãy dùng những lời khuyến khích và làm ích người khác. Như thế lời nói của anh chị em sẽ ích lợi cho người nghe.
29 A tur men womararin ina’omih, baise baibais ana tur gewasin inao, saise sabuw baibais abisa tekokok boro hinab nawowabih hinara’at. Naatu sabuw iyab tur tenonowar boro nibaisih.
30 Đừng làm buồn Thánh Linh. Thánh Linh của Thượng Đế là bằng chứng rằng anh chị em thuộc về Ngài. Thượng Đế ban Thánh Linh cho anh chị em để cho thấy rằng đến ngày cuối cùng Ngài sẽ giải thoát anh chị em.
30 Naatu God Anun Kakafiyin men yababan kwanitin. Anayabin Anun Kakafiyin i God ana’i’inanen wanawanatamaim ema’am it i nowan. Saise nati Veya gagamin nanan ana veya it boro narufamit nabotaitit tanatit.
31 Hãy dẹp bỏ những sự cay đắng và giận dữ. Đừng thốt ra những lời hung hăng làm tổn thương người khác. Đừng làm điều gì gian ác.
31 Imih dogor wanawanan tenakuyakuy, gagamat, yaso’ar, okwanekwan naniyah kakafih ta ta etei kwanihamiyen.
32 Hãy đối với nhau trong nhân từ và yêu thương, tha thứ nhau như Thượng Đế đã tha thứ anh chị em trong Chúa Cứu Thế.
32 Naatu nati sawar efanih, kwa i taituwa etei isah kwanamanaw kwanakabeber, kwaniwanbabanih. Naatu notawiyen isa nama, Jesu Keriso ana bowabowamaim God notanotawiyit na’atube.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Efésios 4, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.