Efésios 2
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Trước kia anh chị em chết về phần tâm linh vì tội lỗi và vì những điều anh chị em làm nghịch với Thượng Đế.
1 Marasika kwa ayub i himorob, anayabin kwa afanasair i ra’at, naatu a bowabow kakafih auman i ra’at.
2 Thật vậy, trong quá khứ anh chị em sống như người thế gian, đi theo Sa-tăng là kẻ cai quản những quyền lực gian ác đang thống trị trên không trung. Thần linh đó hiện đang hành động trong lòng của những người không vâng phục Thượng Đế.
2 Nati ana veya’amaim kwa i tafaram ana yawas kakafin buw dogor wanawanan bowabow kakafin awan karatan, gagub wanawanan afiy hai bonawiyenayan fanah kwabai kwabi’ufununih, naatu boun nati afiy kakafih i hima sabuw hinawiyih God tibifanasair.
3 Trước kia tất cả chúng ta đều sống y như họ, tìm cách thỏa mãn con người tội lỗi của mình và hành động theo ý muốn của xác thịt và tâm trí. Sống theo lối đó, đáng lẽ chúng ta phải gánh lấy cơn thịnh nộ của Thượng Đế, vì chúng ta chẳng khác nào người thế gian.
3 Marasika it auman ata yawas i nati sabuw hai yawasabe wanawanahimaim bairi tama, biyat ana kok naatu ata not kakafih abisa sinafumih tanotanot i tasisinafumo. Naatu nati yawas atamanin biyat ana kokomaim tama tasisinaf God ana baimakiy sabuw afa baitihimih bobogaigiwas it auman boro tatab.
4 Nhưng lòng nhân ái của Thượng Đế thật lớn lao và Ngài quá yêu thương chúng ta.
4 Baise God ana kabeber i ra’at karsuwei, naatu ana yabow it isat i ra’at kwanekwan,
5 Dù trước kia chúng ta chết về mặt tâm linh do những hành động phản nghịch Thượng Đế, nhưng Ngài đã ban cho chúng ta sự sống mới cùng với Chúa Cứu Thế. Anh chị em đã được cứu do ân phúc của Thượng Đế.
5 basit it ata kakafihine God fanan tasair ayubit morob. Baise God buwit tana Keriso wanawananamaim tarun yawas itit. Iti i God ana bosiyasiyaramaim kwa yawas kwabai.
6 Ngài đã khiến chúng ta sống lại cùng với Chúa Cứu Thế, đồng thời cho chúng ta cùng ở trong nước thiên đàng với Ngài. Ân phúc ấy dành cho những người ở trong Chúa Cứu Thế Giê-xu,
6 Naatu God Keriso Jesu bobora’ah ana maramaim, it i wanawananamaim bairit bora’ahit tayen bairi tabi’aiwob,
7 để tương lai Thượng Đế sẽ bày tỏ sự giàu có vô hạn của ân phúc Ngài, do lòng nhân từ Ngài trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
7 saise God ana kabeber wanatowanin etei iti Jesu Keriso wanawananamaim ana yabow i’obaiyit ta’itin.
8 Tôi muốn nói rằng anh chị em đã được cứu bởi ân phúc do lòng tin. Anh chị em không thể tự cứu mình được. Ơn ấy là món quà tặng của Thượng Đế,
8 Anayabin God ana manaw ana kabeberamaim kwa kwaitumatum yawas kwabai. Men kwa raro bababanamaim yawas kwabaimih, baise God ana siwar kwa isa.
9 không phải do công lao của anh chị em; cho nên chẳng ai có thể khoe khoang được.
9 Men a bowabowamaim kwabai, imih men yait ta iti yawas isan nao ra’ara’atamih.
10 Thượng Đế đã tạo nên chúng ta được như ngày nay trong Chúa Cứu Thế Giê-xu để chúng ta làm việc phúc đức, điều mà Ngài đã định trước cho đời sống chúng ta.
10 Anayabin it etei i God ana bowayah sabuw, God sinafit Keriso Jesu wanawanan tarun ta’imon tamatar, God bowabow gewasih bowamih marasika yayakitifuw i tanabow.
11 Anh chị em không phải được sinh ra theo dòng giống Do-thái. Anh chị em thuộc về loại người mà dân Do-thái gọi là “kẻ không chịu phép cắt dương bì.” Những người gọi anh em là “kẻ không chịu phép cắt dương bì” tự gọi mình là “kẻ chịu phép cắt dương bì.” Phép cắt dương bì là điều họ làm cho thân thể họ.
11 Marasika kwa a tufuwamaim i Ufun Sabuw, “A’ar mo’oh tutufih kwatufuw, imih Jew sabuw kwa isa i men God ana sabuw hirouw hio’omih, anayabin kwa a’ar kanabih i men hi’afuw, baise Jew sabuw hai a’ar kanabih i afu’afuw, (nati i ibo hai kwafirin ana baimonok imih orot isah tisisinaf) kwa marasika mi’itube kwama’am i kwananot.
12 Nên nhớ rằng trước kia anh chị em sống không có Chúa Cứu Thế. Anh chị em không phải là công dân Ít-ra-en và cũng chẳng có phần gì trong giao ước về lời hứa mà Thượng Đế đã lập với dân Ngài. Anh chị em không có hi vọng gì vì chẳng biết Thượng Đế.
12 Nati ana veya’amaim kwa i Keriso biyanamaim kusibi kwatit, naatu Israel hai baibasit ana fef men kwabai, tauman sabuw obaibasit ana omatanen ufunane kwama’ama. Naatu men kafa’imo sawar ta boro uf nan isan kwanot nuhifot kwama’amamih, aur God en asir kwama’am kwanekwan.
13 Nhưng trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, anh chị em ngày trước cách xa Thượng Đế nay được đến gần Ngài, qua sự chết Chúa Cứu Thế.
13 Baise boun Keriso Jesu wanawananamaim kwa iyab marasika nabineika kwama’am, Keriso morob ana rara re’ere imaim kwa buwi kwana kwaiyubin.
14 Chính Chúa Cứu Thế đã tạo sự hòa bình giữa người Do-thái và người không phải Do-thái, khiến họ trở thành một dân. Trước kia có bức tường phân cách hai nhóm dân, nhưng Chúa Cứu Thế Giê-xu đã dùng chính thân Ngài phá đổ bức tường ganh ghét ấy.
14 Anayabin Keriso taiyuwin biyanamaim ma toutuman ana fur tarakwib itaiy re, tufuw bai tit, Jew sabuw naatu Ufun Sabuw etei buwit tana ita’imonit.
15 Luật pháp Do-thái có nhiều mệnh lệnh và qui tắc, nhưng Chúa Cứu Thế đã chấm dứt luật đó. Mục đích của Ngài là làm sao cho hai nhóm trở thành một dân mới trong Ngài để tạo nên sự hòa bình.
15 Jew hai ofafar, hai obaiyunen tur, naatu hai bonawiyen tur etei bosair, sabuw big rou’ab hima’am bow hina ita’imon big ta’imon matar, tufuw e’afuw.
16 Mục đích của Ngài cũng để chấm dứt sự hận thù giữa hai nhóm dân, biến họ trở thành một thân và giảng hoà họ lại với Thượng Đế. Ngài đã hoàn thành những mục tiêu ấy qua sự chết của Ngài trên thập tự giá.
16 Keriso anamorob onaf afe’enamaim momorob ana veya big rou’ab hairi ufu’ufut hima’am i biyanamaim big buwih hina God bairi hitounuw.
17 Chúa Cứu Thế đến rao giảng sự hòa bình cho anh chị em, là những người trước kia cách xa Thượng Đế, và cũng giảng cho những người ở gần Ngài.
17 Imih Keriso na Tur Gewasin Tufuw isan, kwa Jew sabuw iti yubin kwama’am isa binan naatu Ufun Sabuw ef yok kwama’am isa binan.
18 Thật thế, qua Chúa Cứu Thế mà cả hai nhóm chúng ta có quyền đến với Cha nhờ một Thánh Linh.
18 Anayabin Jesu wanawananamaim, it Jew sabuw naatu Ufun Sabuw etei i karam boro Anun Kakafiyin ta’imon ana baibaisamaim tanan Tamat God nanamaim tana tit.
19 Cho nên hiện nay dù anh chị em không phải là người Do-thái nhưng anh chị em không còn là người ngoại quốc hay xa lạ nữa mà là công dân cùng với dân thánh của Thượng Đế. Anh chị em thuộc về gia đình của Thượng Đế.
19 Imih kwa Ufun Sabuw, boun ana veya kwa i men tauman sabuw o nanawan sabuw na’atube kwama’amamih. Baise kwa i boun kwana God ana sabuw bairi big ta’imon matar, naatu God kwaifamen i ana nibur kwamatar.
20 Anh chị em giống như một tòa nhà được xây trên nền của các sứ đồ và các nhà tiên tri. Chúa Cứu Thế Giê-xu là đá góc nhà,
20 Kwa i kob abarayah naatu dinab oro’orot hitutut hibatabat tafanamaim auman hiwowabari, tutut an i Keriso Jesu akisin.
21 vì tất cả tòa nhà đều được kết liên trong Chúa Cứu Thế. Ngài khiến cho tòa nhà ấy lớn lên và trở thành đền thờ trong Chúa.
21 I akisinamo bar tutufin etei bai na ku’ay naatu wowab yen bar kakafiyin matar ya’asair God nowanamih itin.
22 Cũng trong Chúa Cứu Thế, anh chị em cùng với những người Do-thái tạo thành một nơi có Thượng Đế ngự qua Thánh Linh.
22 I wanawananamaim kwa auman wowabari, sabuw afa bairi, naatu i ana ma’ama efan kwamatar, God Anuninane imaim ema’ama.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Efésios 2, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.