Deuteronômio 9
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs BKJ
1 Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe đây! Các ngươi sẽ băng qua sông Giô-đanh và đánh đuổi các dân lớn mạnh hơn các ngươi. Họ có những thành phố lớn, vách cao đến tận trời.
1 Ouve, ó Israel: Hoje deves passar o Jordão, para possuíres nações maiores e mais poderosas do que tu, cidades grandes e muradas até o céu,
2 Các dân đó là A-nác, giống dân mạnh và cao lớn. Các ngươi biết về họ, nghe người ta đồn rằng: “Không ai diệt nổi dân A-nác.”
2 um povo grande e alto, os filhos dos anaquins, a quem conheces e de quem ouviste falar. Quem pode resistir diante os filhos de Anaque?
3 Nhưng hôm nay hãy nhớ rằng CHÚA là Thượng Đế các ngươi sẽ đi trước để tiêu diệt họ như lửa thiêu hủy mọi thứ. Ngài sẽ đánh bại họ trước các ngươi, rồi các ngươi sẽ đánh đuổi và tiêu diệt họ nhanh chóng, như lời Ngài đã hứa.
3 Entendemos portanto neste dia, que o SENHOR teu Deus é aquele que vai adiante de ti; como um fogo consumidor, ele os destruirá, e fará com que caiam diante da tua face; assim tu os expulsarás, e os destruirás rapidamente, como o SENHOR te ordenou.
4 Sau khi CHÚA là Thượng Đế các ngươi đã đánh đuổi những dân đó trước các ngươi, thì đừng tự nhủ, “CHÚA đem ta đến đây để chiếm xứ nầy vì ta là người tốt.” Không! Chính vì các dân tộc kia gian ác nên CHÚA đánh đuổi họ đi trước các ngươi.
4 Não fales no teu coração, depois que o SENHOR teu Deus os tiver lançado fora de diante de ti, dizendo: Pela minha justiça o SENHOR me trouxe para possuir esta terra; mas pela iniquidade destas nações, o SENHOR os expulsou de diante de ti.
5 Các ngươi được vào lấy xứ không phải vì các ngươi tốt lành hay chân thật, nhưng vì các dân ấy gian ác. Bởi thế cho nên CHÚA là Thượng Đế đánh đuổi họ để giữ lời hứa Ngài với tổ tiên các ngươi là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.
5 Não é pela tua justiça, nem pela retidão do teu coração, que vais possuir a terra; mas pela iniquidade dessas nações, o SENHOR teu Deus as expulsa de diante de ti, e para que ele possa realizar a obra que o SENHOR jurou a teus pais, Abraão, Isaque e Jacó.
6 CHÚA sẽ ban xứ tốt lành nầy để các ngươi nhận làm sản nghiệp. Nhưng phải biết rằng: Chẳng phải vì các ngươi tốt lành đâu, các ngươi chỉ là dân ương ngạnh.
6 Entende, portanto, que não é pela tua justiça que o SENHOR teu Deus te dá esta boa terra para possuí-la, pois tu és um povo obstinado.
7 Hãy nhớ điều nầy và đừng bao giờ quên: Các ngươi đã chọc giận CHÚA trong sa mạc. Các ngươi chống nghịch Ngài từ ngày rời Ai-cập cho tới khi đến đây.
7 Lembra-te, e não te esqueças como provocaste à ira ao SENHOR teu Deus no deserto; desde o dia em que deixastes a terra do Egito, até que chegastes a este lugar, fostes rebeldes contra o SENHOR.
8 Ở núi Si-nai, các ngươi đã chọc giận CHÚA, đến nỗi Ngài muốn tiêu diệt các ngươi.
8 Também em Horebe provocastes à ira ao SENHOR, e o SENHOR se irou convosco, para vos destruir.
9 Khi ta leo lên núi để nhận hai bảng đá có ghi Giao ước của CHÚA lập cùng các ngươi, ta đã ở trên núi bốn mươi ngày đêm; chẳng ăn hay uống gì.
9 Quando subi ao monte para receber as tábuas de pedra, as tábuas do pacto que o SENHOR fez convosco, permaneci no monte quarenta dias e quarenta noites; não comi pão nem bebi água;
10 CHÚA trao cho ta hai bảng đá, do chính ngón tay của Thượng Đế viết. Trên đó có những mệnh lệnh Ngài truyền cho các ngươi trên ngọn núi từ trong đám lửa, trong ngày các ngươi tụ họp lại tại đó.
10 e o SENHOR me entregou duas tábuas de pedra, escritas com o dedo de Deus; e nelas havia escrito conforme todas as palavras que o SENHOR falou convosco no monte, do meio do fogo, no dia da congregação.
11 Sau bốn mươi ngày đêm ấy, CHÚA đưa cho ta hai bảng đá trên đó ghi Giao ước Ngài lập cùng các ngươi.
11 E aconteceu que no fim de quarenta dias e quarenta noites, que o SENHOR me deu as duas tábuas de pedra, as tábuas do pacto.
12 CHÚA bảo ta, “Hãy đứng dậy đi xuống núi cho nhanh, vì dân mà ngươi đã đem ra khỏi xứ Ai-cập đã bại hoại rồi. Họ đã vội quên những mệnh lệnh ta truyền và đã tự tạo thần tượng cho mình.”
12 E o SENHOR me disse: Levanta-te, desce rapidamente daqui, porque o teu povo, que tiraste do Egito se corrompeu; eles se afastaram, rapidamente, do caminho que eu lhes ordenei; eles fizeram para si mesmos uma imagem de fundição.
13 CHÚA phán tiếp: “Ta đã thấy rõ dân nầy thật cứng đầu và ương ngạnh!
13 Além disso, o SENHOR falou comigo, dizendo: Eu vi esse povo, e eis que é um povo obstinado;
14 Ngươi hãy giang xa ra để ta hủy diệt họ và làm cho cả thế gian không nhớ chúng nữa. Rồi ta sẽ lập một dân khác từ ngươi, lớn mạnh hơn dân nầy.”
14 deixe-me sozinho, para que eu os destrua, e apague o seu nome de debaixo do céu; e farei de ti uma nação maior e mais poderosa do que eles.
15 Ta vội xuống núi, lúc ấy núi đang cháy rực, mang theo hai bảng đá có ghi Giao ước trong tay ta.
15 Assim, eu me virei, e desci do monte, e o monte ardia com fogo; e as duas tábuas do pacto estavam em minhas duas mãos.
16 Khi ta nhìn thì thấy các ngươi phạm tội nghịch cùng CHÚA là Thượng Đế và làm tượng con bò vàng để thờ. Các ngươi đã nhanh chóng từ bỏ những điều CHÚA đã truyền dạy.
16 E olhei, e eis que vós havíeis pecado contra o SENHOR vosso Deus, e vós tínheis feito um bezerro fundido; vos desviastes rapidamente do caminho que o SENHOR vos havia ordenado.
17 Ta ném vỡ tan tành hai bảng đá trước mặt các ngươi.
17 E olhei as duas tábuas, e as lancei de minhas duas mãos, e as quebrei diante dos vossos olhos.
18 Rồi một lần nữa, ta sấp mặt xuống đất trước CHÚA trong bốn mươi ngày đêm. Ta chẳng ăn bánh hay uống nước. Các ngươi đã phạm tội, làm điều ác trước mặt CHÚA, và chọc Ngài nổi giận.
18 E caí diante do SENHOR, como nos primeiros quarenta dias e quarenta noites; não comi pão, nem bebi água, por causa de todos os vossos pecados, que pecastes, agindo impiamente aos olhos do SENHOR para provocá-lo à ira.
19 Ta sợ cơn thịnh nộ của CHÚA phừng lên đến nỗi Ngài muốn tiêu diệt các ngươi, nhưng Ngài chịu nghe lời cầu xin của ta một lần nữa.
19 Porque tive medo, por causa da ira e do grande desprazer com que o SENHOR se acendeu contra vós, para vos destruir. Mas também neste tempo o SENHOR me ouviu.
20 CHÚA đã nổi giận cùng A-rôn và định giết người đi, nhưng ta cũng cầu thay cho A-rôn.
20 E o SENHOR se irou com Arão para destruí-lo, e ao mesmo tempo orei por Arão.
21 Ta lấy tượng bò vàng tội lỗi các ngươi làm đem thiêu trong lửa. Ta nghiền nát thành bụi rồi ném vào khe nước chảy từ núi ra.
21 E tomei o vosso pecado, o bezerro que havíeis feito, e o queimei com fogo e o pisei, e o moí em pedaços muito pequenos, até que ficaram pequenos como o pó, e lancei o seu pó no ribeiro que descia do monte.
22 Các ngươi đã chọc CHÚA nổi giận tại Ta-bê-ra, Ma-sa, và Kíp-rốt Hát-ta-va.
22 E em Taberá, e em Massá, e em Quibrote-Hataavá provocastes a ira do SENHOR.
23 Rồi CHÚA bảo các ngươi đi khỏi Ka-đe Ba-nê-a và dặn rằng, “Hãy đi lên và chiếm lấy xứ ta ban cho ngươi.” Nhưng các ngươi chống lại mệnh lệnh của CHÚA là Thượng Đế. Các ngươi không tin cậy Ngài cũng chẳng chịu vâng lời Ngài.
23 Do mesmo modo quando o SENHOR vos enviou de Cades-Barneia, dizendo: Ide e possuí a terra que vos dei; então vos rebelastes contra o mandamento do SENHOR vosso Deus, e não crestes nele, nem ouvistes a sua voz.
24 Từ khi ta biết các ngươi, các ngươi thường chống nghịch CHÚA.
24 Fostes rebeldes contra o SENHOR desde o dia em que vos conheci.
25 CHÚA phán rằng Ngài sẽ hủy diệt các ngươi, vì thế ta lại sấp mình xuống trước mặt Ngài trong bốn mươi ngày đêm.
25 Assim, caí diante do SENHOR quarenta dias e quarenta noites, como caí na primeira, porque o SENHOR havia dito que vos destruiria.
26 Ta khẩn cầu cùng CHÚA rằng, “Lạy CHÚA là Thượng Đế, xin đừng hủy diệt dân Ngài, là dân thuộc riêng Ngài, mà Ngài đã giải phóng và mang ra khỏi Ai-cập bằng quyền năng và sức mạnh lớn lao của Ngài.
26 Portanto orei diante do SENHOR, e disse: Ó Senhor DEUS, não destruas o teu povo e a tua herança, que resgataste com a tua grandeza, que trouxeste do Egito com mão forte.
27 Xin nhớ đến những tôi tớ Ngài là Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Xin đừng nhìn đến sự ương ngạnh, bướng bỉnh của dân nầy, cũng đừng nhìn đến tội lỗi và gian ác của họ.
27 Lembra-te dos teus servos, Abraão, Isaque e Jacó; não olhes para a teimosia deste povo, nem para a sua iniquidade, nem para o seu pecado,
28 Nếu không, dân Ai-cập sẽ nói, ‘Vì CHÚA không có khả năng dẫn dân Ngài đến xứ Ngài hứa cho họ, và vì Ngài ghét họ nên Ngài đem họ vào sa mạc để giết họ.’
28 para que a terra de onde nos tiraste não diga: Pois o SENHOR não pôde trazê-los à terra que lhes prometeu, e porque os odiava, ele os tirou para matá-los no deserto.
29 Nhưng họ vốn là dân Ngài, dân thuộc riêng cho Ngài, là dân Ngài giải phóng ra khỏi Ai-cập bằng quyền năng và sức mạnh vĩ đại của Ngài.”
29 Mas eles são o teu povo e a tua herança, que trouxeste pelo teu grande poder e pelo teu braço estendido.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Deuteronômio 9, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.