Colossenses 2
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Tôi muốn anh chị em biết rằng tôi đang cố gắng hoạt động cho anh chị em, cho những người ở Lao-đi-xê và những người chưa hề gặp mặt tôi.
1 Ayu bowabow fokarin maiyow kwa isa, naatu Laodicea ekaleisia isah abowabow, i akokok anao kwananowar, naatu sabuw afa ayu men hisusu’ubu auman isah abowabow i anao kwanaso’ob.
2 Tôi muốn mọi người được vững mạnh và đoàn kết với nhau trong tình yêu để đầy lòng hiểu biết. Do đó họ sẽ hoàn toàn hiểu rõ điều kín giấu của Thượng Đế, là Chúa Cứu Thế.
2 Ayu au kok gagamin iti sabuw dogoroh i kaufair awan nakaratan, naatu yabowamaim naku’ayih saise so’ob tutufin enan naniyan hinab naatu God ana kirikirifot Keriso wanawananamaim hinaso’ob.
3 Trong Ngài mọi sự quí báu khôn ngoan và hiểu biết được cất giữ an toàn.
3 Keriso akisin maiyow i ata ukwar rerekab isan ana so’ob an, naatu so’ob gewasih etei nugunug na’atube awan ma’afut ma’atan ema’am.
4 Tôi nói những điều nầy cho anh chị em để không ai phỉnh dỗ anh chị em bằng những lời lẽ văn hoa nhưng thật ra là giả tạo.
4 A tur ao’owen, orot babin men ta veya kwanitin a natain nifufuwimih, ana tur nayare hamehamen mumunin nao men kwananowar.
5 Thân tôi tuy cách xa anh chị em nhưng lòng không cách. Tôi rất vui mừng khi thấy đời sống đạo đức và đức tin vững mạnh của anh chị em trong Chúa Cứu Thế.
5 Basit ayu biyau’umaim i kwaboyouwu baise ayubu’umaim i bairit tama’am. Kwa a baitumatum Keriso wanawananamaim kwafatum badowan kwabatabat isan, ayu i abiyasisir yawas tutufin Keriso’omaim.
6 Vì anh chị em đã tiếp nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu làm Chúa mình nên hãy cứ sống trong Ngài.
6 Keriso kwaibasit a Regahamih kwabai, imih Jesu wanawanan kwanarun i ana kokomaim kwanama.
7 Hãy đâm rễ sâu và xây dựng đời sống mình trong Chúa. Hãy vững mạnh trong đức tin theo như điều anh chị em đã được khuyên dạy, luôn luôn đầy lòng tạ ơn.
7 A wairoroh Jesu wanawanan na’of barur, a yawas i tafanamaim kwanawowab naatu a baitumatum nara’at fair nab hibi’obaiyi na’atube. Naatu dogor merarayow awan nakaratan.
8 Đừng để ai dẫn anh chị em đi theo con đường lầm lạc bằng những lời dạy dỗ rỗng tuếch của loài người, do các thần linh cai trị đời nầy đưa đến chứ không phải từ Chúa Cứu Thế.
8 Kwana’itin gewas men yait ta orot ana so’obamaim nifufuwi nanawiyi dibur kwanarunamih, iti bai’obaiyen, i orot hiyabunibun re enan naatu iti tafaram ana sabuw hai ofafar hio hikikirum, i hiyabunibun enan men Keriso biyanane enan.
9 Tất cả những gì thuộc về Thượng Đế đều ngự trong Chúa Cứu Thế, dù cho khi Ngài đang sống trên đất,
9 Anayabin Keriso biyan i God biyan tutufin etei nati’imaim ema’am.
10 anh chị em đã có mọi điều mình cần trong Chúa Cứu Thế, Ngài là Vua các vua, Chúa các chúa.
10 Imih o Keriso inabaib ana veya yawas tutufin etei boro inab naatu o biya tutufin etei God boro niwani. Anayabin o Keriso ana kou’ayomaim kuma’am, i ana aiwob i auyomtoro’ot, yoyom bonawiyenayah naatu roubabaruwen hai aiwob etei hai fair tafahimaim.
11 Đồng thời trong Ngài, anh chị em nhận được một phép cắt dương bì mới không phải do tay người. Qua phép cắt dương bì trong Chúa Cứu Thế Giê-xu tức sự chết của Ngài, anh chị em được giải thoát khỏi quyền lực của bản chất tội lỗi mình.
11 Kwa kwana Keriso nowan kwamamatar i men orot hai a’afuw hibimatarimaim kwa a’ar hi’afuw kwana Keriso nowan kwa mataramih. Baise Keriso taiyuwin ana a’afuwamaim dogor a kakafin e’afuw bosair.
12 Khi chịu lễ báp-têm, anh chị em đã được chôn với Chúa Cứu Thế Giê-xu và cũng đã được sống lại với Ngài qua đức tin, trong quyền năng của Thượng Đế, là quyền năng đã được bày tỏ khi Ngài khiến Chúa Cứu Thế sống lại từ kẻ chết.
12 Anayabin bapataito kwabaib ana veya’amaim, kwa i Keriso bairi hubemaim hitouni; naatu God ana fairamaim Jesu morobone biyawas ana maramaim, kwa auman abaitumatumamaim God yawas it kwamisir maiye.
13 Trước kia, đang khi anh chị em chết về mặt tâm linh vì tội lỗi và nô lệ cho bản chất tội lỗi mình thì Thượng Đế đã làm cho anh chị em sống lại với Chúa Cứu Thế. Ngài cũng đã tha thứ mọi tội lỗi chúng ta.
13 Kwa ayubimaim i kwamorob, anayabin a bowabow kakafinamaim naatu Ufun Sabuw aur ofafar en. Baise Keriso wanawananamaim God kwa yawas it, naatu ata kakafih etei notawiyen.
14 Ngài cũng đã xóa hết nợ, tức những qui tắc mà chúng ta đã vi phạm. Ngài lấy giấy nợ, đóng đinh nó vào thập tự giá.
14 Ata kakafih etei sasamen, abisa ofafar eo men tabi’ufunun ana bit tabaib. Naatu ata kakafih etei fefemaim hikirumen hi’inu’in bai in Jesu onaf afe’en hio’onaf ana veya’amaim gurus.
15 Thượng Đế cũng tước đoạt quyền thế của các kẻ cai trị phần tâm linh. Qua thập tự giá, Ngài đã đắc thắng và chứng tỏ cho thế gian thấy các quyền thế ấy bất lực.
15 Naatu onaf afe’en Keriso taiyuwin afiy hai bonawiyenayan ana fair rufam tit bebeyan i’obaiyit kakafin wasatan.
16 Cho nên, đừng để ai bắt anh chị em tuân theo qui luật về ăn uống, lễ đạo, ngày Trăng Mới hay ngày Sa-bát.
16 Imih o a bay ku’aa o a harew kutomatom men yait ta nao fafarimih, na’atube veya gagamih, o sumar bebegawan ana hiyuw, o Baiyarir ana veya men kwanabi’ufunun isan sabuw men hina’uwimih.
17 Những điều đó chỉ là hình bóng của những điều sẽ đến nhưng thực chất đã đến rồi và ở trong Chúa Cứu Thế.
17 Iti sawar etei i ina’inan na’atube, uwatanah no marasika hima’am imaim i’obaiyih God hikwakwafir, abisa boro uf tamamatar isan. Baise Keriso i na sawar hai yabih anababatun sinaf himatar, imih nati sawar atamanih i sawar.
18 Đừng để ai chê trách anh chị em bằng cách bắt anh chị em hạ mình thờ lạy các thiên sứ. Những người đó đi tìm ảo ảnh, trong lòng đầy tính kiêu căng khờ dại vì chỉ suy nghĩ theo kiểu loài người mà thôi.
18 Men yait ta taiyuwin ufunane ana itinin nigewasin nayara’iy nao, ayu i ina’inan afa aitah, tounamatar hai kwafirinamaim tanakwafir. Nati sabuw isah men kwanibasit hina’uwi, sabuw bai’o’orotoyah hai not moumurih.
19 Họ không kết hợp với cái đầu là Chúa Cứu Thế, từ Ngài mà các phần trong thân lo chăm sóc nhau và kết hợp với nhau để lớn lên theo cách mà Thượng Đế đã xếp đặt.
19 Nati sabuw Keriso biyanamaim hai murab i turu’um. Keriso i ukwarin. Naatu it etei i biyan turin, yabin it etei i ana murab fokarinamaim irarit, naatu God ana kokomaim tara’at ata not etataseseb.
20 Nếu anh chị em đã chết với Chúa Cứu Thế và được giải thoát khỏi các thần linh thống trị thế gian thì tại sao anh chị em lại sống như thể mình còn thuộc về thế gian bằng cách vâng giữ những qui tắc như:
20 Kwa i Keriso bairi kwamorob naatu iti tafaram ana afiy hai bonawiyenane rufami. Baise aisim kwama’am ana itinin i iti tafaram nowanabe? Aisim sawar iti na’atube kwabi’ufunun?
21 “Không nên ăn cái nầy,” “Không nên nếm món kia,” “Đừng đụng đến thứ nọ”?
21 Iti bay men kwana’aan, nati men kwanakartubun, iti men kwanabutubun,
22 Những qui tắc ấy dành cho những vật thuộc thế gian, hễ dùng xong là vô dụng. Đó là những qui tắc do loài người đặt ra và dạy dỗ thôi,
22 sawar iti etei i orot hai bai’obaiyen, bay i anin isan matar imih etei tanaa.
23 mới xem qua thì thấy như khôn ngoan nhưng thật ra chỉ là một phần của đạo giáo loài người. Những qui tắc ấy có vẻ như dễ dãi, bắt người ta ép xác nhưng thật ra không thể chế ngự được dục vọng xấu xa của con người tội lỗi.
23 Iti sawar etei i gewasih, anayabin boro nibaisit tanayoyoban gewas, tanayohar gewas, naatu taiyuwit boro tana yara’iyit tanakakaf, baise boro men nanunuw gewas. Anayabin orot babin ana not kakafin sinaf isan not ekukura’ara’ah boro men karam tanahirimih.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Colossenses 2, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.