Colossenses 1
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Phao-lô, sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu theo ý muốn Thượng Đế, cùng với Ti-mô-thê, anh em chúng ta.
1 Ayu Paul God ana kokomaim rubinu, Keriso Jesu ana tur abarayan amatar, taituwa Timothy airi.
2 Kính gởi các anh chị em tín hữu thánh trung thành trong Chúa Cứu Thế ở Cô-lô-se: Nguyền xin ân phúc và sự bình an của Thượng Đế, Cha chúng ta ở cùng anh chị em.
2 Kwa God ana sabuw kakafiyih naatu bosunusunubayah Keriso wanawananamaim, nati Colosai wanawanan kwama’am etei a merar ayiy.
3 Mỗi khi cầu nguyện chúng tôi luôn luôn tạ ơn Thượng Đế, Cha của Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta về anh chị em,
3 Aki Mar etei kwa isa ayoyoyoban ana maramaim, ata Regah Jesu Keriso Tamah God ana merar ayiy.
4 vì chúng tôi nghe về đức tin anh chị em trong Chúa Cứu Thế Giê-xu và tình yêu anh chị em dành cho các con dân Chúa.
4 Anayabin kwa ata Regah Jesu Keriso kwabitumitum naatu God ana sabuw kwabiyabuwih ana tur hina hio anowar.
5 Đức tin và tình yêu mà anh chị em hiện có là vì hi vọng, một hi vọng đã dành sẵn cho anh chị em trên thiên đàng. Anh chị em học biết hi vọng đó khi nghe về lời của sự thật, tức Tin Mừng
5 Tur anababatun Tur Gewasin wantoro’ot hina hio kwanonowar ana veya’amaim, kwa a baitumatum naatu a yabow etei i mar ana yasisir isan nuhi fot kwama kwakakaif.
6 đã được rao giảng cho anh chị em. Ở mọi nơi trên thế giới Tin Mừng nầy đều mang đến ân phúc và lớn mạnh. Còn anh chị em cũng nhận được điều ấy vì anh chị em đã nghe Tin Mừng và hiểu biết sự thật về ân phúc của Thượng Đế.
6 Tur Gewasin ana baigegewasin i tit tafaram wanawanan tuw ra’at orot babin hai yawas ebobotabitabir, ana itinin i boubuntoro’ot hina, manaw kabeber isan hio kwanowar, turobe kwaso’ob naniyan kwabaib, na’atube emamatar.
7 Anh chị em đã học biết ân phúc của Thượng Đế qua Ê-pháp-ra, anh em yêu dấu của chúng tôi. Anh đã làm việc chung với chúng tôi và là đầy tớ trung thành của Chúa Cứu Thế.
7 Iti tur etei i aki bow turai wabin Epaphras, Keriso ana bowayan gewasin ta, aki efani manaw kabeber Godane bai na eo kwanonowar,
8 Anh cũng đã thuật cho chúng tôi nghe tình yêu của anh chị em qua Thánh Linh.
8 Aki auman kwa mi’itube Anun Kakafiyin yabow bit isan, eo anowar.
9 Vì thế, từ ngày chúng tôi nghe về anh chị em chúng tôi luôn luôn cầu nguyện cho anh chị em để anh chị em hoàn toàn hiểu biết ý muốn Thượng Đế. Chúng tôi cũng cầu xin cho anh chị em được khôn ngoan và hiểu biết những việc thiêng liêng
9 Ana’an nati isan, aki tur anonowar ana veya, kwa isa mar etei ayoyoban God abifefeyan, kwa ayawasamaim abisa sinaf isan ekokok saise so’ob tutufin etei ni’obaiyi. Naatu ayoyoyoban ayubine ana so’ob buriburih auman nit ukwar hina rerekab, sawar etei hai yabih kwanaso’ob.
10 để anh chị em sống một cuộc đời mang vinh hiển và làm vừa lòng Chúa về mọi mặt. Đời sống anh chị em cũng sẽ kết quả trong mọi việc phúc đức và lớn lên trong sự hiểu biết về Thượng Đế.
10 Aki iti na’atube ayoyoyoban saise yawas gewasin Regah ekokok na’atube kwanama, mar etei a sinafumaim Regah boro niyasisir. A bowabow tata’ane gewasih kwabowabow boro ro’on namatar. Naatu God ana so’obamaim anot nara’at natasasar.
11 Thượng Đế sẽ dùng quyền năng lớn lao của Ngài khiến anh chị em thêm vững mạnh để không bỏ cuộc khi gặp cảnh khổ nhưng trái lại nhẫn nhục.
11 Naatu i ana fair bonamanamarinamaim nakura’ara’ahi, saise kwa boro biyababan gagamih wanawanan wainabi ana ef boro kwanaso’ob yate nanub.
12 Anh chị em sẽ vui mừng tạ ơn Cha chúng ta là Đấng khiến anh em đồng dự phần thừa kế mà Ngài đã chuẩn bị cho dân Ngài trong nước sáng láng.
12 Yasisiramaim Tamat ana merar kwanay, anayabin i ana sinafumaim ef botawiy ana baibasit itit, ana sabuw kakafiyih bairi aiwob marakawin ninowat tanafaram.
13 Thượng Đế đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực của tối tăm và đưa chúng ta vào nước của Con yêu dấu Ngài.
13 Gugumin kakafin ana fairane iyawasit naatu nawiyit tatit I Natun ebiyabow ana aiwob wanawanan yariyit.
14 Con Ngài đã trả thế cho tội lỗi chúng ta và trong Ngài chúng ta nhận được sự tha tội.
14 I Natun wanawananamaim it rufamit tatit ata bowabow kakafih notawiyen.
15 Chưa có ai thấy Thượng Đế nhưng Chúa Cứu Thế Giê-xu là hình ảnh của Ngài. Chúa Cứu Thế cao trọng hơn tất cả các vật được tạo dựng.
15 Keriso i God wa’iwa’irin ana itinin bai na irerereb ta’itin. Natun orot ain fewawawar sawar etei himamatar hai ukwarin
16 Qua quyền năng Ngài, muôn vật được thành hình: vật trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, mọi quyền năng, các vua chúa, các kẻ cầm quyền. Tất cả đều được tạo nên qua Chúa Cứu Thế và vì Chúa Cứu Thế.
16 Anayabin Ine sawar tutufin etei God imataren; sawar iti tafaram wanawanan naatu sawar no mar wanawanan ta’i’itah naatu men ta’i’itah etei, na’atube aiwob, wagabur, fair, bonawiyenayah, roubabaruwenayah, etei God awanamaim eo himatar naatu i isan sinaf himatar.
17 Ngài đã có trước mọi vật và mọi vật được tồn tại là vì Ngài.
17 I mat ma’abo sawar uf himatar naatu ana fair wanawananamaim sawar etei hai efanamaim iu’uman hifokar ti’inu’in.
18 Ngài là đầu của thân thể, thân thể là hội thánh. Mọi vật đều từ Ngài mà ra. Ngài là người đầu tiên sống lại từ trong kẻ chết cho nên Chúa Cứu Thế đứng đầu mọi vật.
18 Jesu i ekaleisia tutufin etei ana ukwarin, yawas an anababatun naatu murumurubih wanawanahimaim I wantoro’ot morobone misir maiye kek ain wan etutufuw na’atube. Imih sawar tutufin etei’imak i akisin ebi’ukwarin.
19 Thượng Đế đã vui lòng sống trong Ngài.
19 Anayabin God iyasisir men kafaita, imih i taiyuwin ana itinin bai na Jesu wanawananamaim run ma.
20 Qua Chúa Cứu Thế, Thượng Đế đã mang mọi vật trở về với Ngài, vật trên trời và dưới đất mà Ngài đã giảng hòa qua huyết của sự chết Chúa Cứu Thế trên thập tự giá.
20 Naatu Jesu ana morobomaim mar tafaram God bai na ita’imon tounuw matar Jesu ana rara onaf afe’enamaim suwa re’er ana veya God tufuw e’afuw.
21 Trước kia anh chị em bị phân cách khỏi Thượng Đế. Trong tư tưởng, anh chị em thù nghịch với Ngài và những việc ác anh chị em làm đều chống nghịch Ngài.
21 Marasika kwa i bowabow kakafih kwanotanot naatu kwasisinaf, imih God ana kamabiy kwamatar ef yok na’in kwama’am.
22 Nhưng nay Thượng Đế đã khiến anh chị em trở nên bạn hữu Ngài qua sự chết của Chúa Cứu Thế. Do đó Ngài có thể đưa anh chị em vào trong sự hiện diện của Ngài để làm một dân thánh, không vết dơ, không điều gì khiến Thượng Đế có thể kết tội anh chị em được.
22 Baise boun i Natun Keriso biyan momorobomaim kwa I ana tounuw kwamatar, saise kwa yayasairen kwamatar, aur kato en biya etei sasouwin nanamaim boro kwanatit.
23 Nếu anh chị em cứ vững mạnh trong đức tin thì anh chị em sẽ hưởng được mọi điều ấy. Anh chị em không nên ra khỏi hi vọng mà Tin Mừng đã mang đến cho anh chị em. Tin Mừng nầy được loan báo cho mọi người khắp nơi và tôi, Phao-lô là người giúp rao Tin Mừng ấy.
23 A baitumatum kwanabotan kwananan na’at basit, kwanabatkikin gewas a dariniwa’an kwanabat, tur gewasin kwanowar nuhifot kwama’ama men kwanihamiy. Anayabin nati tur gewasin kwanonowar i tafaram wanawanan tutufin etei tibibinan, ayu Paul auman nati tur gewasin isan ai’akir abowabow.
24 Tôi vui mừng chịu khổ vì anh chị em. Chúa Cứu Thế còn phải chịu khổ vì thân thể Ngài, tức là Hội Thánh. Tôi vui lòng nhận phần chịu khổ của tôi trong thân thể.
24 Naatu boun ayu biyababan kwa isa abaib, i abiyasisir, anayabin Keriso ana ekaleisia isah biyan bababan na’atube turin anibais biyou nababan yomanin ana’asa’ub.
25 Tôi trở nên đầy tớ của hội thánh vì Thượng Đế đã giao cho tôi phần vụ đặc biệt để giúp đỡ anh chị em, phần việc đó là rao giảng toàn vẹn thông điệp của Thượng Đế.
25 Naatu ayu i God ana ekaleisia isan bowamih rubinu, bowabow iti itu, kwa a ma gewas isan tur etei ana binan yomanin ana’asa’ub.
26 Thông điệp ấy là sự thật đã được giấu kín từ thuở tạo thiên lập địa nhưng nay đã được bày tỏ ra cho các con dân Thánh của Ngài.
26 Iti tur i God ana kirikirifot, marasika sabuw hitutufuw yabunibun renan matahimaim ibun wa’ir in, baise boun i bai tit ana sabuw etei nahimaim ebirerereb.
27 Thượng Đế muốn cho con dân Ngài biết về sự giàu có và điều kín giấu đầy vinh hiển nầy mà Ngài đã dành sẵn cho con dân Ngài. Điều kín giấu ấy là Chúa Cứu Thế sống trong anh chị em. Ngài là nguồn hi vọng về vinh hiển duy nhất của chúng ta.
27 Iti kirikirifot i God yakitifuw ana sabuw itih, hitab hitatit Eteni Sabuw isah tirerereb, saise kirikirifot ana yasisir hita’itin. Naatu kirikirifot i Jesu Keriso wanawananamaim kwanarun naatu kwa nuhi nafot God ana aiwobomaim boro ana marakaw bonamanamarin bairi kwafaram.
28 Cho nên, chúng tôi tiếp tục rao giảng Chúa Cứu Thế cho mọi người, dùng mọi sự khôn ngoan mà khuyên răn, dạy dỗ để đưa mọi người vào sự hiện diện của Thượng Đế và làm những người trưởng thành trong Chúa Cứu Thế.
28 Imih God ana so’ob aki biti’imaim Keriso I abibinan sabuw etei nahimaim, sabuw abimatnuwih naatu abi’obaiyih saise Keriso wanawananamaim hinarun nakusouwih ana bow anan God nanamaim ana tit
29 Muốn đạt mục tiêu ấy, tôi ra công phấn đấu, nhờ vào quyền năng lớn lao của Thượng Đế đang hoạt động mãnh liệt trong tôi.
29 Iti bowabow baisawarin isan abow ai’akir yuwou a’asfufur, anayabin i ana fair ayu wanawana’umaim ma kura’ara’ahu abowabow.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Colossenses 1, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.