Atos 7
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Thầy tế lễ tối cao hỏi Ê-tiên, “Có đúng thế không?”
1 Imaibo Firis Gagamin Stephen ibatiy, “Tur iti i anababatun o isa teo?”
2 Ê-tiên đáp, “Thưa các anh và các cha, xin nghe tôi nói. Thượng Đế vinh hiển của chúng ta hiện ra cùng Áp-ra-ham, tổ tiên của chúng ta ở Mê-sô-bô-ta-mi trước khi ông đến sinh sống tại Ha-ran.
2 Stephen iya’afut eo, “Taitu tuwai’inah naatu tamai’inah anao kwananowar! Ata agir Abraham ufibo na Haram imaim ma, baise wan Mesopotamia ma’am ana veya’amaim Marakaw ana God isan irerereb eo. Stephen Ebibinan|alt="Stephen preaching" src="cn01914B.tif" size="col" loc="Act 7.2" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="7.2"
3 Ngài nói cùng Áp-ra-ham rằng, ‘Hãy rời bỏ quê hương và bà con ngươi, rồi đi đến xứ mà ta sẽ chỉ cho.’
3 ‘A tafaram naatu taituwa inihamiyih inan tafaram ayu ana bi’obaiyi imaim inama.’
4 Vì thế Áp-ra-ham rời xứ Canh-đê đi đến cư ngụ tại Ha-ran cho tới khi cha ông qua đời. Sau đó Thượng Đế sai ông đến xứ mà quí vị hiện đang sống đây.
4 Imih Kaldia tafaram ihamiy naatu na Haram imaim ma. Tamah momorob ufunamaim God nawiy na me tafaram iti bitin boun kwa iti kwama’am.
5 Thượng Đế không cho ông phần đất nào ở đây cả, dù là miếng đất bằng bàn chân đi nữa. Nhưng Ngài hứa sẽ cấp cho ông cùng dòng dõi ông đất nầy, ngay trước khi Áp-ra-ham có con.
5 God men abisa ta Abraham nowanamih itin naatu men kafa’imo me kikimin eafuw nowanamih itin. Baise God eomatan tafaram tutufin etei boro nowanamih nab naatu wawawan uf hinatutufuw boro hinab. Nati ana veya’amaim Abraham i aurin kek en ma’am God eomatan.
6 Ngài bảo ông rằng, ‘Dòng dõi ngươi sẽ làm dân tạm trú trên đất xa lạ, không phải là quê hương mình. Dân xứ đó sẽ bắt họ làm nô lệ và ngược đãi họ trong bốn trăm năm.
6 Naatu God iti na’atube eo, ‘O wawaw i boro nah toumanih hai tafaramamaim hinama, nati’imaim boro nah toumanih hai fair babanamaim hinama bowabow fokarin maiyow hinabow, hinarouw hini’a’afiyih kwamur etei 400 na’atube nasawar.’
7 Nhưng ta sẽ trừng phạt quốc gia mà họ bị làm nô lệ. Rồi con cháu ngươi sẽ rời xứ ấy và thờ phụng ta tại nơi nầy.’
7 Baise God iuwih eo, ‘Ayu nati tafaram hinabuwi babahimaim kwanama kwanabowabow boro baimakiy anitih. Nati ufunamaim boro tafaram kwanihamiy kwanatit efan iti’imaim ayu kwanakwafiru.
8 Thượng Đế lập giao ước với Áp-ra-ham qua phép cắt dương bì. Khi Áp-ra-ham sinh con trai là Y-sác, thì làm phép cắt dương bì cho con, lúc Y-sác được tám ngày. Y-sác cắt dương bì cho con là Gia-cốp, Gia-cốp cắt dương bì cho mười hai người con là tổ tiên của dân ta.
8 Imaibo God ar afu’afuw ana obaibasit Abraham itin ina’inanen na’atube kaif. Imih Abraham natun Isaac tufuw fur ta’imon sasawar ufunamaim ana ar kanabin e’afuw. Nati ufunamaim Isaac natun Jacob ana ar kanabin e’afuw naatu Jacob natunatun 12 it uwatanah wabih gagamin auman hai ar kanabih e’afuw.
9 Các con của Gia-cốp ganh ghét Giô-xép nên bán ông làm nô lệ sang Ai-cập. Nhưng Thượng Đế ở cùng, che chở
9 Baise uwatanah wabih gagamin Joseph isan hibobowen akir wairafin na’atube hitih hitubun hibai hin Egypt imaim ma. Baise God i mar etei biyanamaim ma’am.
10 và cứu ông khỏi mọi cảnh nguy khốn. Vua Ai-cập thích Giô-xép và nể nang sự khôn ngoan mà Thượng Đế ban cho ông. Vua cử ông làm tể tướng toàn thể lãnh thổ Ai-cập và giao cho ông quản trị mọi người phục vụ trong cung vua.
10 Naatu ana yababan ta ta wanawanamaim bibais. Veya ta Joseph Egypt hai aiwob nanamaim titit ana veya aiwob orot Joseph i’itin yan bai naatu ana kakaf isan ma, anayabin God ukwar rerekab Joseph itin. Imih aiwob orot Joseph bai ana gawanamih yai, naatu aiwob ana bar gagamin wanawanan auman kaifin isan ana fair itin.” Joseph Egypt sabuw ebobonawiyih|alt="Joseph as ruler" src="cn01917b.tif" size="col" loc="Act 7.10" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="7.10"
11 Lúc xứ Ai-cập và Ca-na-an bị nạn hạn hán, không có gì mọc nổi, dân chúng rất đói khổ thì các con trai Gia-cốp, tổ tiên chúng ta cũng không có gì ăn.
11 “Nati ana veya’amaim baimar kakafin na, Egypt naatu Canaan tafaram wanawanan yababan gagamin na’in matar, naatu it uwatanah bayumih hi’akir.
12 Gia-cốp nghe xứ Ai-cập có lúa liền sai các con mình xuống. Đó là chuyến đi đầu tiên của họ sang Ai-cập.
12 Egyptamaim bay ma’am ana tur Jacob nonowar ana veya uwatanah hai nanawan wantoro’ot imaim hin.
13 Lúc họ đến Ai-cập lần thứ nhì, Giô-xép thú thật các anh em về gốc gác mình và nhà vua mới biết gia đình ông.
13 Hai nanawan bairou’abin ana veya Joseph taiyuwin botait irerereb tuwahinah hai tur eowen, naatu Pharaoh nati’imaim Joseph ana nibur isah so’ob.
14 Rồi Giô-xép sai sứ giả mời Gia-cốp, cha mình xuống Ai-cập cùng với các gia đình anh em ruột thịt, tất cả là bảy mươi lăm người.
14 Nati ufunamaim Joseph tamah Jacob isan, naatu tamah ana nibur isah tur iyafar, nah etei 75 na’atube.
15 Gia-cốp liền xuống Ai-cập. Ông và các con qua đời tại đó.
15 Imaibo Jacob rena Egypt tit, nati’imaim i natunatun bairi himorob, it uwatanah.
16 Về sau xác họ được dời đến Sê-chem và được chôn trong cùng ngôi mộ mà Áp-ra-ham mua từ các con trai Hê-mô ở Sê-chem.
16 Naatu biyah i hibow himatabir maiye tafaram wabin Shekem rahamaim hiya, nati me i Abraham orot Hamor natunatun biyahine tubun.
17 Lời hứa của Thượng Đế cho Áp-ra-ham trở thành sự thật, số người sống tại Ai-cập càng ngày càng gia tăng.
17 “God ana omatanen Abraham eo’omatan na baiturobe isan ana veya na kabom, naatu ata sabuw Egypt hima’am busuruf ra’at tafaram awan karatan.
18 Rồi một vua khác lên thay, chẳng biết gì về Giô-xép cả.
18 Imaibo aiwob orot ta Joseph men susu’ub i busuruf Egypt isan i’aiwob.
19 Vua nầy lừa gạt dân ta và tàn bạo đối với các tổ tiên ta, buộc họ phải quăng bỏ các trẻ sơ sinh cho chết đi.
19 Ata a’agir ifufuwih, biyababan kakafin anababatun itih, eokikinih hai kek sosof hisrouwen hi’in himorob.
20 Lúc ấy Mô-se ra đời, trông rất kháu khỉnh. Suốt ba tháng, Mô-se được nuôi trong nhà cha mình.
20 “Nati ana veya’amaim Moses tufuw, kek ana itinin gewasin maiyow. Baremaim hinah tamah hibunwa’ir ma sumar etei tounu na’atube sawar.
21 Khi họ bỏ Mô-se ra ngoài thì công chúa, con nhà vua nhận ông làm con và nuôi nấng như con mình.
21 Imaibo barene hibotait titit ana veya, Pharaoh natun babitai natunamih bai ituw ra’at yen orot matar.
22 Người Ai-cập dạy Mô-se đủ thứ kiến thức. Ông rất hùng hồn trong lời nói cũng như việc làm.
22 Egypt ana ukwar rerekab etei Moses hi’obaiy so’ob, naatu ana tur ana sinafumaim eo sisinaf etei i fairih.
23 Lúc Mô-se được khoảng bốn mươi tuổi, ông nghĩ nên đi thăm dân mình, tức dân Ít-ra-en.
23 “Moses ana kwamur etei 40 na’atube baib ana maramaim ana not bogaigiwas tit ana sabuw Israel inananawanih.
24 Nhìn thấy một người Ai-cập ngược đãi một người Ít-ra-en, Mô-se liền giết người Ai-cập để bênh vực người Ít-ra-en.
24 Tit inan Egypt orot ta Israel orot boborabirab itin, basit na ibais wasfafar naatu anasa bow Egypt orot rab morob.
25 Mô-se tưởng dân tộc mình sẽ hiểu rằng Thượng Đế đang dùng ông để giải cứu họ, nhưng họ lại không hiểu.
25 Moses not eo, ‘God ana baibais ayu wanawana’umaim esisinaf au sabuw boro hina’itin hinaso’ob, baise men hi’itinimih.’
26 Hôm sau ông thấy hai người Ít-ra-en đánh nhau, Mô-se tìm cách can ngăn họ và bảo họ, ‘Nầy, chúng ta là anh em. Tại sao lại hại nhau như vậy?’
26 Marto Israel orot rou’ab hairi hibiyow itih, basit na fafar naatu iuwih, ‘Kwa airi i ain uf, aisim taiyuw kwabiyow?’
27 Người đang đánh người kia xô Mô-se ra nói, ‘Ai cử anh làm sếp và quan tòa?
27 Baise orot ta biwa’an kakafene Moses rukouw eo, ‘O aki bainabatani naatu baibabatiyi isan yait rubini?’
28 Hay anh muốn giết tôi như đã giết người Ai-cập hôm qua sao?’
28 ‘O kukokok ayu ina’asbunu fai Egypt orot ia’asabun na’atube?’
29 Mô-se nghe vậy liền bỏ Ai-cập trốn qua xứ Mi-đi-an, làm kẻ lưu vong. Trong khi cư ngụ ở Mi-đi-an, ông sinh hai con trai.
29 Moses iti tur nonowar ana veya Egypt ihamiy bihir in tafaram wabin Midian imaim ma, nati’imaim touman orot na’atube ma’am natunatun orot rou’ab hitufuw.
30 Bốn mươi năm sau, một thiên sứ hiện ra cùng ông trong đám lửa của một bụi cây đang cháy ở sa mạc gần núi Si-nai.
30 Kwamur 40 sasawar ufunamaim oyaw Sinai sisibinamaim arar yan tounamatar Moses isan irerereb wairaf na’atube wa’ab wanawanan to’ab.
31 Khi thấy hiện tượng ấy, Mô-se ngạc nhiên nên bước lại gần để xem, thì nghe tiếng Chúa phán,
31 Moses iti wairaf to’ab i’itin ana veya ana kasiy ra’at, naatu itinbunai isan na biyubin auman Regah fanan nowar;
32 ‘Ta là Thượng Đế của tổ tiên ngươi, Thượng Đế của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.’ Mô-se run sợ không dám nhìn.
32 ‘Ayu i o uwatanah hai God, Abraham ana God, Isaac, naatu Jacob.’ Moses yan wanawanan birubir fafar an uman hioror naatu men karam boro tanuw ta’itin.
33 Chúa lại bảo ông rằng, ‘Hãy cởi dép ngươi ra, vì ngươi đang đứng trên đất thánh.
33 Imaibo Regah eo, ‘A ana sumasum kubosair anayabin iti kamar i kakafiyin yan kubatabat.
34 Ta đã thấy sự khốn khổ của dân ta tại Ai-cập. Ta đã nghe tiếng kêu than của họ nên ngự xuống để giải cứu họ. Cho nên bây giờ, Mô-se, ta sai ngươi trở về Ai-cập.’
34 Ayu au sabuw Egypt imaim bai’akir kakafin maiyow hibaib aitih, naatu hitef hirererey anowar, imih rufamih botaitih isan are ana. O kuna aiyafari kumatabir maiye au Egypt.’
35 Mô-se nầy mà hai người Ít-ra-en đã gạt ra và bảo ‘Ai đặt ngươi làm sếp và quan tòa?’ Mô-se là người mà Thượng Đế sai đến để làm lãnh tụ và người giải cứu, với sự giúp đỡ của thiên sứ mà ông đã thấy trong bụi cây cháy.
35 “Moses i orot ta’imon Israel sabuw hikwahir hiu, ‘O yait rubini aki bainabatani naatu baibatiyi isan?’ Nati orot ta’imon sabuw bainabatanih naatu rufamih botaitih isan God taiyuwin ana tounamatar iyafar na wa’ab toto’abamaim irerereb Moses fair itin.
36 Mô-se dẫn dân chúng ra khỏi Ai-cập. Ông làm nhiều phép lạ và dấu kỳ tại Ai-cập, nơi Hồng hải và trong sa mạc suốt bốn mươi năm.
36 Sabuw nawiyih Egypt hihamiy hitit, naatu ina’inan men hi’i’itah efa’efanin Egyptamaim, Red Sea imaim, naatu kwamur 40 arar yanamaim iwa’an hi’itah.
37 Cũng chính Mô-se nầy là người đã bảo dân Ít-ra-en rằng ‘Thượng Đế sẽ chọn một nhà tiên tri như ta từ trong vòng các ngươi.’
37 “Iti orot Moses i boun Israel sabuw hai tur eowen, ‘God boro dinab orot kwa wanawananamaim a orot ta niyafar nan, ayu biyafaru na’atube.’
38 Chính Mô-se nầy là người đã ở với dân Ít-ra-en trong sa mạc, ở với thiên sứ là người nói chuyện cùng ông trên núi Si-nai, và ở với các tổ tiên chúng ta. Ông nhận lời của sự sống và truyền lại cho chúng ta.
38 Iti orot Moses Israel sabuw bairi kou’ay hibai arar yanamaim hibat naatu ata a’agir bairi Sinai oyawemaim tounamatar tur yawasin bai re itin naatu ya’abun it isat rena.
39 Nhưng các tổ tiên chúng ta không muốn nghe Mô-se. Họ gạt bỏ ông và muốn quay trở về Ai-cập.
39 Baise it ata a’agir fanan men hibosiyasiyar, naatu fanan hikwahir hikokok i mi’itube hitamatabir maiye hitan Egypt hitatit.
40 Họ yêu cầu A-rôn, ‘Xin hãy làm cho chúng tôi các thần để hướng dẫn chúng tôi. Dù Mô-se dẫn chúng tôi ra khỏi Ai-cập, nhưng chúng tôi chẳng biết ông ta gặp chuyện gì rồi.’
40 Imih Aaron hiu, ‘Aki akokok god ta kusinaf au nai i’iyon ebonawiyi. Moses Egyptane nawiyi atitit men aso’ob abisa isan matar.’
41 Vì thế họ làm một thần tượng giống như bò con, rồi dâng của lễ cho nó, lấy làm hãnh diện về tượng do tay mình làm ra.
41 Nati ana veya’amaim aibat ta cow natun ana yumatabe hibu’ur. Naatu sibor hibow hina sawar i umahimaim hisinaf mamatar ana sibor hiyai naatu ana hiyuw hibow hiyasisir.
42 Nhưng Thượng Đế quay mặt khỏi họ và để mặc họ thờ mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. Y như lời chép trong sách các nhà tiên tri: Thượng Đế phán,
42 Baise God mafutih, naatu mar ana sawar kwafirih isan ibasit. Dinab orot hai Bukamaim hikikirum na iturobe,
43 Các ngươi mang lều theo mình để thờ thần Mô-léc
43 Kwa i god Moloch ana sis kwa’abar kwareremor,
44 Lều Thánh, nơi mà Thượng Đế phán với tổ phụ chúng ta, cùng đi với họ trong sa mạc. Thượng Đế chỉ cho Mô-se cách xây dựng Lều ấy, ông làm theo sơ đồ Thượng Đế chỉ cho.
44 “Ata a’agir God ana sis arar yanamaim hiyai hima’am i God ana itinin nati’imaim bairi hima’am. Nati sis i God mi’itube Moses iu bi’obaiy na’atube naatu God yayakitifuw na’atube hiwowab.
45 Sau đó, Giô-suê hướng dẫn tổ tiên chúng ta chiếm đất của các dân khác. Dân ta xông vào, còn Thượng Đế đuổi các dân khác ra. Khi dân ta đi vào đất mới nầy, thì họ mang theo cái Lều mà họ đã nhận từ tổ tiên. Họ giữ Lều ấy cho đến đời Đa-vít,
45 Nati ufunamaim, ata a’agir sis tamahinah biyahine nan hibai hi’abar Joshua babanamaim bonawiyih bairi hirun sabuw afa hai tafaram God nunih hititit i hai tafaram hibai. Naatu nati sis i ma’am David ana veya’amaim tit.
46 là người làm vừa lòng Thượng Đế. Ông xin Thượng Đế cho phép ông cất một cái nhà cho Ngài, là Thượng Đế của Gia-cốp.
46 David ana baibais gagamin na’in God biyanane bai, imih ifefeyan bar tawowab. Jacob ana God isan
47 Nhưng Sô-lô-môn lại là người xây đền thờ.
47 baise iti bar i Solomon wowab.
48 Tuy nhiên Đấng Rất Cao không ngự trong nhà do tay người làm ra. Như nhà tiên tri đã nói:
48 “Baise Auyomtoro’ot ana God i men orot bar tewowowabimaim ema’ama’amih, dinab orot eo kikirum na’atube.
49 ‘Trời là ngôi ta,
49 ‘Mar i ayu au urama’ama,
50 Nên nhớ, chính tay ta đã tạo ra mọi vật nầy!’” Ê-sai 66:1–2
50 Sawar iti kwanotanot men ayu asinaf himatar?’
51 Ê-tiên tiếp tục giảng thuyết: “Nầy dân ương ngạnh! Các ông không dâng lòng mình cho Thượng Đế, cũng không chịu nghe Ngài! Các ông luôn luôn chống lại lời dạy của Thánh Linh, giống y như tổ tiên các ông.
51 “Kwa i dogor fokarih naatu dogor wanawanan gugumin naatu tain gugurih God ana tur men kwanonowar! Kwa i a’a’agir ah kwabat, mar etei Anun Kakafiyin kwarurukouw!
52 Tổ tiên các ông tìm cách giết hại tất cả các nhà tiên tri. Từ lâu các nhà tiên tri đó nói rằng có Đấng nhân đức sẽ đến, nhưng tổ tiên các ông giết họ. Bây giờ các ông lại chống nghịch và giết Đấng nhân đức ấy.
52 Kwa a’agir dinab orot marasika hima’am etei hirouw hi’a’akirih, nati dinab oro’orot i marasika iti orot gewasin nan isan hikurereb. Baise kwa uwatanah hirouw himorob, naatu boun kwa iti orot gewasin nan baban kwao kwarab morob.
53 Các ông nhận luật pháp Mô-se mà Thượng Đế ban qua thiên sứ Ngài, nhưng các ông không thèm vâng giữ luật đó.”
53 Kwa i God ana ofafar tounamatar hiyafar re’er kwabai, baise men kwabobosiyasiyar!”
54 Nghe thế các nhà lãnh đạo đùng đùng nổi giận, nghiến răng với Ê-tiên.
54 Kaniser hima Stephen eo hinonowar yah so’ar gagamat bufutih hikarmusiyan himisir
55 Nhưng Ê-tiên được đầy dẫy Thánh Linh. Ông nhìn lên trời thấy Chúa Giê-xu đứng bên phải Thượng Đế.
55 Baise Stephen God Anun Kakafiyin biyan etei karatan batabat au mar nuwra’at God ana marakaw itin naatu Jesu sisibin asukwafune batabat itin.
56 Ông nói, “Kìa, tôi thấy thiên đàng mở ra và Con Người đứng bên phải Thượng Đế.”
56 Basit eo, “Kwanuw ra’at! Ayu mar ana etawan botawiy Orot Natun God ana asukwafune bat ai’itin!”
57 Họ liền la lớn, bịt lỗ tai lại và chạy ào tới Ê-tiên.
57 Fanah aumetawat hiwow tainih higibud, imaibo etei au ta’imon hinunuw hibai
58 Họ kéo ông ra ngoài thành và ném đá cho chết. Những người làm chứng dối nghịch Ê-tiên giao áo họ cho một thanh niên tên Sau-lơ giữ.
58 hitain hitit bar merar gagamin ufunane hitaiy re kabayamaim hirab, orot iyab baifuwenamaim sif hirurubon, hai faifuw nati orot boubun wabin Saul anamaim hiya.
59 Trong khi họ đang ném đá thì Ê-tiên cầu nguyện, “Lạy Chúa Giê-xu, xin tiếp linh hồn con.”
59 Kabayamaim hibat hirabirab auman Stephen Regah isan ifefeyan eo “Regah Jesu ayubu kubai!”
60 Ông quì gối xuống và kêu lớn, “Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy cho họ.” Sau khi nói xong, Ê-tiên qua đời.
60 Sun yowen fanan aumetawat erererey auman i wow eo, “Regah abisa ayu isou tisisinaf hai
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Atos 7, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.