Atos 4

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Trong khi Phia-rơ và Giăng đang nói chuyện với dân chúng thì các thầy tế lễ, sĩ quan chỉ huy toán lính canh gác đền thờ và các người Xa-đu-xê ập đến.
1 Firis afa naatu Tafaror Bar gagamin kaifenayah hai ukwarih, Sadducee bairi hiyen hina Peter, John hairi hibat sabuw hai tur hi’owen biyah hitit.
2 Họ bực mình vì hai sứ đồ giảng dạy dân chúng rằng Chúa Giê-xu đã sống lại từ kẻ chết.
2 Ya so’ar yen bufutih, anayabin Peter John hairi sabuw hi’obaiyih hio, “Sabuw karam boro morobone hinamisir maiye, Jesu morobone mimisir maiye na’atube.”
3 Các nhà lãnh đạo Do-thái bắt giam Phia-rơ và Giăng. Vì lúc ấy đã tối, nên họ nhốt hai người trong ngục cho đến hôm sau.
3 Peter, John hairi hibuwih hifatumih hin dibur bar hiyariyih imaim hi’in, anayabin veya re mar fo.
4 Nhưng nhiều người đã nghe Phia-rơ và Giăng giảng thì tin điều hai sứ đồ nói. Lúc ấy có khoảng năm ngàn tín hữu.
4 Baise sabuw iyab nati rou’ay gagamin wanawanan hima binan hinonowar, hitumatum naatu orot nati kou’ay wanawanan hibiyab yena 5,000 bai.
5 Hôm sau, các lãnh tụ, các bô lão Do-thái và các giáo sư luật họp lại tại Giê-ru-sa-lem.
5 Marto marauman sabuw hai bonawiyenayah, ai’in naatu Ofafar bai’obaiyenayah etei Jerusalemamaim kou’ay hibai.
6 An-na, thầy tế lễ tối cao, Cai-pha, Giăng và A-lịch-sơn có mặt tại đó cùng với toàn thể gia đình thầy tế lễ tối cao.
6 Annas Firis Gagamin na nati’imaim, Kaiafas hairi, John, Alexander naatu orot afa iyab Firis Gagamin ana nibur wanawananamaim hima’am auman hina.
7 Họ bắt Phia-rơ và Giăng trình diện và hạch hỏi, “Mấy anh lấy quyền hành nào hay ai cho các anh quyền làm chuyện nầy?”
7 Peter John hairi hibuwih hina nahimaim hibat naatu hibusuruf hibabatiyih hio, “Kwa mi’itube kwasinaf orot igewasin? Naatu fair menane kwabai iti kwasinaf? O yait wabinamaim kwasinaf?”
8 Lúc ấy Phia-rơ cảm nhận Thánh Linh, nói với họ, “Thưa quí vị lãnh đạo dân chúng và các bô lão,
8 Imaibo Peter Anun Kakafiyin iwanasum batabat iyafutih eo, “Sabuw bonawiyenayah naatu regaregah ai’in.
9 có phải quí vị hạch hỏi chúng tôi về việc lành chúng tôi làm cho một người què không? Có phải quí vị muốn biết ai đã chữa lành cho người đó không?
9 Aki kwa’afi orot an kafikafirin biyanamaim sawar gewasin iti matar kwa’i’itin isan naatu mi’itube bigewasin isan kwabibatiyi,
10 Chúng tôi muốn tất cả quí vị và toàn dân Do-thái biết rằng người nầy được chữa lành là nhờ quyền năng của Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét. Quí vị đã đóng đinh Ngài nhưng Thượng Đế đã khiến Ngài sống lại từ kẻ chết. Người nầy trước bị què, nhưng nay được lành và đang đứng trước mặt quí vị đây, nhờ quyền năng Chúa Giê-xu.
10 i boro iti na’atube atao, kwa naatu sabuw tutufin etei Israel wanawanan kwama’am kwataso’ob, orot boun iti namaim biyan tutufin etei igewasin ebatabat, i Jesu Keriso Nazareth mowan kwabai onaf afe’en kwa’asabun naatu morobone God bora’ah maiye mimisir i wabinamaim iti orot yawas.
11 Chúa Giê-xu là
11 Iti orot isan Bukamaim hikirum hio,
12 Ngoài Chúa Giê-xu ra không ai có thể cứu con người được. Danh Ngài là quyền năng duy nhất trên thế gian đã được ban cho nhân loại để cứu con người. Chúng ta phải nhờ Ngài mới được cứu.”
12 Yawas boro men yait ta biyanamaim tanatita’ur, anayabin tafaram tutufin wanawanan men yait ta wabin nati na’atube ema’ama boro imaim niyawasitamih.”
13 Các nhà lãnh đạo Do-thái thấy Phia-rơ và Giăng ăn nói bạo dạn, họ biết cả hai đều là người tầm thường, không học hành bao nhiêu nên vô cùng kinh ngạc. Họ nhận ra là Phia-rơ và Giăng đã từng ở với Chúa Giê-xu.
13 Naatu Peter John hairi hibitafofor hi’itin ana veya hi’inanih iti orot i kirumatih, orot maiyow bar ma’anih, naatu hifofofor men kafaita, imaibo hi’inanih hiso’ob iti orot i Jesu bairi hima hireremor.
14 Vì thấy người được chữa lành đang đứng cạnh hai sứ đồ nên họ không thể bẻ bác gì được.
14 Naatu iban maiye orot hibiyawas i bairi hibatabat hi’i’itin hai tur etei sawar.
15 Sau khi các nhà lãnh đạo Do-thái ra lệnh đem hai sứ đồ khỏi phòng họp, họ bắt đầu bàn bạc.
15 Imih hi’uwih Kaniser hai efan hihamiy ufun hitit naatu i taiyuwih hibabatiyih ef hinuwet hio.
16 Họ bảo, “Chúng ta phải xử trí thế nào với mấy người nầy? Ai ở Giê-ru-sa-lem cũng biết họ đã làm một phép lạ sờ sờ, chúng ta không thể chối cãi.
16 “Abisa boro tanasinaf iti orot isah? Sabuw etei Jerusalem wanawananamaim tama’am hiso’ob iti sawar gagamin ta hisinaf, naatu it boro men karam tanibun wa’irimih.
17 Nhưng để cho tin nầy khỏi lan rộng thêm giữa vòng dân chúng, chúng ta phải cấm họ không được dùng danh ấy giảng cho dân chúng nữa.”
17 Baise iti sawar tasasar tit sabuw wanawanah run isan, it boro tana’otanih naatu tanimatnuwih iti orot wabinamaim men sabuw hini’obaiyihimih.”
18 Họ cho mang Phia-rơ và Giăng vào và cấm không được nói hay dạy dân chúng về danh Chúa Giê-xu nữa.
18 Imaibo hi’af maiye hirun naatu hiofafarih Jesu wabinamaim men hinabinan naatu men yait ta hini’obaiy maiye’emih.
19 Nhưng Phia-rơ và Giăng trả lời, “Quí vị hãy xét điều nào Thượng Đế muốn. Chúng tôi nên vâng lời quí vị hay vâng lời Thượng Đế?
19 Baise Peter, John hairi hi’awar foten hio, “Kwa taiyuw kwafufun kwa’itin, God nanamaim kwa fana anabaib i gewasin o God fanan anabaib i gewasin?
20 Vì chúng tôi không thể im lặng mà phải nói ra điều mình đã nghe và thấy.”
20 Aki taiyuwi abistan a’itin naatu anonowar iti tur boro men anihamiy.”
21 Các nhà lãnh đạo Do-thái cấm hai sứ đồ lần nữa, rồi thả ra. Họ không biết cách nào để trừng phạt các sứ đồ, vì cả dân chúng đều ca ngợi Thượng Đế về sự việc vừa xảy ra.
21 Obiruwen tur afa hio ufunamaim hibotaitih hin, baikwatutunen ana ef men ta ma’am boro hititih, anayabin sabuw etei’imak abisa mamatar isan God hibobora’ara’ah.
22 Người được chữa lành ấy hơn bốn mươi tuổi.
22 Naatu orot nati yayawas ana kwamur i 40 tafanamaim.
23 Sau khi Phia-rơ và Giăng rời cuộc họp với nhóm lãnh tụ Do-thái, hai người trở về thuật cho các tín hữu khác nghe những gì mà giới trưởng tế và các bô lão Do-thái đã bảo họ.
23 Hibobotaitih ufunamaim Peter, John hairi hin hai sabuw biyah firis ukwarih naatu regaregah ai’in mi’itube hi’u’uwih etei hai tur hi’owen.
24 Khi các tín hữu nghe thế, họ đồng tâm cầu nguyện cùng Thượng Đế, “Lạy Chúa, Ngài là Đấng dựng nên trời, đất, biển và mọi vật trong đó.
24 Iti hinonowar etei’imak auta’imon yoyobanamaim fanah hibora’ah God isan hio, “Regah fair matuwanin, mar, tafaram naatu riy baimatarenayan, naatu wanawanahimaim sawar etei auman ana baimatarenayan.
25 Nhờ Thánh Linh Ngài và qua tổ phụ chúng tôi là Đa-vít, tôi tớ Ngài, Ngài đã phán:
25 Anun kakafiyinamaim a’akir orot, aki uwai David awanamaim eore eo,
26 Các vua trên đất chuẩn bị chiến đấu,
26 Tafaram ana aiwob baiyow isan teyayabuna,
27 Những việc ấy xảy ra khi Hê-rốt, Bôn-ti Phi-lát, những người không phải Do-thái cùng những người Do-thái họp nhau nghịch Chúa Giê-xu tại Giê-ru-sa-lem. Chúa Giê-xu là đầy tớ thánh của Ngài mà Ngài đã lập làm Đấng Cứu Thế.
27 Turobe Herod, Pontius Pilate hairi Ufun Sabuw naatu Israel sabuw bairi iti bar merar gagaminamaim hibobaita’ay o a Roubininenayan orot wabin Jesu, o a’akir wairafin kakafiyin isan hiyakitifuw.
28 Họ làm cho kế hoạch Ngài được thành tựu do quyền năng và ý muốn Ngài.
28 Iti sabuw i marasika o a kok abisa mataramih a fairamaim iyayakitifuw i nonowatin hisinaf emamatar.
29 Bây giờ, lạy Chúa, xin hãy lắng nghe lời hăm dọa của họ. Lạy Chúa, xin giúp tôi tớ Ngài mạnh dạn rao giảng lời Ngài.
29 Naatu boun Regah, aki teo’obiruwi kunowar, aki o a’akir wairafi kwibaisi fair kwiti, saise ana batkikin a tur anabinan.
30 Xin giúp chúng con can đảm bằng cách tỏ quyền năng chữa trị của Ngài. Xin chứng tỏ và làm nhiều phép lạ do quyền năng Chúa Giê-xu, tôi tớ thánh của Ngài.”
30 Uma kuru’atayan o a’akir kakafiyin Jesu wabinamaim yawas kwiyafar etit naatu ina’inanen fokarih, baifofofor, kusinaf.”
31 Sau khi họ cầu nguyện xong thì nơi họp rung chuyển. Mọi người đều được nhận Thánh Linh và mạnh dạn rao giảng lời Thượng Đế, không sợ hãi gì.
31 Yoyoban hibisawar ufunamaim, efan nati hima’ama’amaim busuruf ibiguw, naatu Anun Kakafiyin iwanih hitafofor hitit hibusuruf God ana tur hibinan.
32 Các tín hữu đều đồng lòng và xem của riêng mình như của chung. Thật ra, họ san sẻ với nhau mọi thứ.
32 Baitumatumayah hai not naatu dogoroh etei na ta’imon matar. Men yait ta ana sawar akisin nowan rouwamih, baise hai sawar etei hifafarambonen.
33 Nhờ quyền năng lớn lao, các sứ đồ thuật cho dân chúng biết là Chúa Giê-xu đã thật sống lại từ kẻ chết. Thượng Đế cũng ban phúc lành nhiều cho các tín hữu.
33 Tur Abarayah fair gagamin maiyow iwanih hibat Regah Jesu ana misir maiye hiorerereb, naatu manaw kabeber Godane gagamin maiyow tafahimaim isuwai ra’iy.
34 Không ai trong nhóm thiếu thốn điều gì. Thỉnh thoảng có người bán ruộng đất hoặc nhà cửa, mang tiền lại,
34 Naatu nati kou’ay wanawananamaim men yait ta sawar isan biyababanamih, anayabin sabuw iyab isah me hima’am naatu bar hima’am i hiyateten hitobon kabay hibow hina,
35 giao cho các sứ đồ. Rồi tiền ấy được phát cho người nào túng thiếu.
35 tur abarayah nahimaim hiyaraiyen naatu i hibow sabuw hai yababan ana fofoninamaim hifafaramih.
36 Có một tín hữu tên Giô-xép, người Lê-vi, sinh ở đảo Chíp. Các sứ đồ gọi ông là Ba-na-ba nghĩa là “người giục giã.”
36 Iti na’atube mamatar ana veya baitumatumayan orot ta wabin Joseph Levite ana bowabow orot ta, Cyprus imaim tufuw, naatu tur abarayah wabin ta Barnabas hiwab (anayabin Koufair Ana Orot).
37 Giô-xép có một thửa ruộng, bán đi rồi mang tiền giao cho các sứ đồ.
37 Ana me ya’atait hitubun naatu kabay bai na tur abarayah itih.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Atos 4, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.