Atos 3
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Một ngày nọ, Phia-rơ và Giăng lên đền thờ khoảng ba giờ chiều, là giờ định sẵn mỗi ngày để cầu nguyện.
1 Veya ta rabirab three korok na’atube Peter, John hairi Tafaror Bar gagaminamaim yoyobanamih hiyen hin.
2 Nơi cổng đền thờ gọi là Cổng Đẹp, có một người bị què từ lúc mới sinh nằm đó. Mỗi ngày người ta mang anh ta đặt ở cổng ấy để xin tiền những người đi vào đền thờ.
2 Nati Tafaror Bar gagamin ana seboseb Etawan Gewagewasin awanamaim orot an kafikafirin auman tutufuw, i mar etei te’abar tena nati’imaim teyare sabuw tirun titit isah ema efefeyan.
3 Khi thấy Phia-rơ và Giăng vào thì anh mở miệng xin tiền hai người.
3 Peter, John hairi hina hirur itih, isah kabayamih fefeyan.
4 Phia-rơ và Giăng nhìn thẳng vào anh và bảo, “Hãy nhìn chúng tôi!”
4 Peter John hairi mutufor isan hinuw naatu Peter eo, “Aki kui’iti!”
5 Anh liền nhìn hai người, tưởng họ sẽ cho mình tiền.
5 Basit orot isah nuw, notanot boro hairi biyahimaim abisa ta tab.
6 Nhưng Phia-rơ bảo, “Tôi không có vàng bạc gì hết nhưng tôi sẽ cho anh điều tôi có. Nhân danh Chúa Cứu Thế Giê-xu ở Na-xa-rét, hãy đứng lên và bước đi!”
6 Baise Peter isan eo, “Ayu auru kabay en, baise abistan abai anan i boro anit. Jesu Keriso Nazareth mowan i wabinamaim, abiyuni kumisir kubat kuremor!”
7 Rồi Phia-rơ nắm tay phải anh đỡ dậy. Lập tức bàn chân và mắt cá anh trở nên vững vàng.
7 Naatu ofere uman ana asukwafune bai ibais misir an yan bat. Mar ta’imon orot an fuk sun higewasih,
8 Anh nhảy lên, đứng trên chân rồi bắt đầu bước đi. Anh vào đền thờ với hai sứ đồ, vừa đi vừa nhảy vừa ca ngợi Thượng Đế.
8 fasi iwa’an misir an yan bat remor. Imaibo bairi etawan awan hirun kunununuw God ana merar yi wabin bora’ara’ah.
9 — ausente —
9 Sabuw rou’ay gagamin hima’am kawasa kununuw God bobora’ah hi’itin,
10 — ausente —
10 Naatu hi’i’inan i fefeyanayan Etawan Gewagewasin awanamaim ma’ama, naatu biyanamaim abisa matar hi’i’itin isan hi’oror sa’irih naatu hai kasiy ra’at.
11 Trong khi anh đang nắm tay Phia-rơ và Giăng thì dân chúng ngạc nhiên chạy lại xúm quanh họ nơi Cổng Sô-lô-môn.
11 Orot na Peter, John hairi biyahimaim bukikinih batabat sabuw hi’i’itin ana veya hifofofor erekasiy auman hinunuw hin biyah hitit, efan wabin Solomon ana seboseb efanamaim.
12 Thấy vậy Phia-rơ bảo, “Nầy người Ít-ra-en, sao các anh chị em ngạc nhiên? Anh chị em nhìn chúng tôi như thể chúng tôi nhờ quyền năng hay công đức riêng mà khiến anh nầy đi được.
12 Peter bat sabuw itih in sawar naatu iuwih eo, “Israel sabuw, aisim iti sawar mamatar isan kwabifofofor? Naatu aisim aki kwa’i’iti kikini? Kwanotanot iti i aki ai fairamaim, ai aki ai kakafiyinamaim iti orot ai yawas bat ereremor?
13 Thượng Đế của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, Thượng Đế của tổ phụ chúng ta, ban vinh hiển cho Chúa Giê-xu, tôi tớ Ngài. Nhưng anh chị em đã giao Ngài cho Phi-lát giết. Ông ta định thả Ngài nhưng anh chị em gạt bỏ Ngài.
13 Iti i Abraham, Isaac naatu Jacob hai God, naatu it ata’a’agir auman hai God, ana omatanen i iti ana’akir orot Jesu kakafiyin isan eo, baise kwa kwabai a orot ukwarih umahimaim kwayai hi’asabun, naatu Pilate botaitinamih eo ana veya Pilate nanamaim kwakwahir.
14 Anh chị em không muốn Đấng thánh và vô tội nhưng ngược lại, anh chị em yêu cầu Phi-lát giao cho mình một kẻ giết người.
14 Kwa Orot Kakafiyin naatu ana Yawas Mutufurin kwakwahir, efanin Pilate kwaifefeyan sabuw asbunuwenayan i botait.
15 Anh chị em giết Đấng ban sự sống, nhưng Thượng Đế đã khiến Ngài sống lại từ trong kẻ chết. Chúng tôi là những người làm chứng về việc ấy.
15 Kwa ayawas ana bonawiyenayan orot kwa’asabun. Baise God morobone bora’ah misir maiye naatu aki i iti yawas ana kourerebayah.
16 Nhờ đức tin nơi Chúa Giê-xu mà người què nầy được chữa lành là người mà anh chị em biết. Người nầy được hoàn toàn lành mạnh là nhờ đức tin nơi Chúa Giê-xu. Chính anh chị em thấy tận mắt chuyện ấy!
16 Aki abitumatum Jesu wabinamaim iti orot iyawas fair bai. Iti i Jesu wabinamaim naatu baitumatum i wanawananamaim na, iti orot biyan tutufin etei iyawas boun iti kwa’i’itin naatu kwaso’so’ob.
17 Thưa anh chị em, tôi biết sở dĩ anh chị em đối xử với Chúa Giê-xu như thế là vì anh chị em và các nhà lãnh đạo đều không hiểu điều mình làm.
17 Taitu tuwai’inah Jew, ayu bounabo aso’ob kwa a ukwarih bairi a kasiyomaim Jesu isan iti na’atube kwasinaf.
18 Qua các nhà tiên tri, Thượng Đế đã nói rằng Chúa Cứu Thế phải chịu khổ hình và chết. Nay Thượng Đế đã khiến mọi điều ấy xảy ra đúng như vậy.
18 Baise God marasika ana dinab orot biyahimaim itenaya, ana Roubininenayan orot boro ni’akir naatu ana tur nati i boun na iturobe.
19 Cho nên hãy ăn năn! Hãy trở lại cùng Thượng Đế thì Ngài sẽ tha tội cho anh chị em. Rồi Chúa sẽ mang đến thời kỳ nghỉ ngơi.
19 Imih dogor kwanikitabir naatu God isan kwanatatabir maiye, saise i boro a kakafih nakusouwen.
20 Ngài cũng sẽ sai Chúa Giê-xu, Đấng mà Ngài đã chọn làm Chúa Cứu Thế của anh chị em.
20 Nati namamatar ana veya, imaibo ayub ana fair bain baiboubun isan boro Regah wanawananamaim nan biya natit. Jesu, i ana Roubinineyan orot marasika kwa isa rurubin boro niyafar.
21 Tuy nhiên Chúa Giê-xu phải ở lại thiên đàng cho đến khi mọi việc được sửa sang lại. Từ xưa, qua các nhà tiên tri thánh, Thượng Đế đã nói về thời kỳ nầy.
21 I boro maramaim nama nanan God ana veya ya’iyai nan natit, sawar etei nasinaf hinan hiniboubuh maiye, marasika ana dinab orot kakafiyih biyahimaim kukurereb na’atube.
22 Mô-se nói, ‘Chúa, là Thượng Đế các ngươi, sẽ ban cho các ngươi một nhà tiên tri giống như ta. Nhà tiên tri ấy là một người trong các ngươi. Các ngươi hãy nghe lời người.
22 Moses eo, ‘Regah a God boro kwa wanawanamaim a orot ta narubin dinab orot namatar ayu rurubinu na’atube, imih tain kwanarub sawar etei sinafumih nao kwananowar.
23 Ai không vâng lời nhà tiên tri đó sẽ bị xử tử, cắt đứt khỏi dân Chúa.’
23 Orot yait nati dinab orot fanan men nabobosiyasiyar i boro God ana sabuw biyahine hina’afuru’um natit anababatun.’
24 Sa-mu-ên và tất cả các nhà tiên tri khác thay mặt Thượng Đế đến sau ông cũng nói đến thời kỳ nầy.
24 Dinab oro’orot etei tur hibai, Samuel ma’am ana veya’amaim dinab orot afa i ufununamaim auman iti veya boun boro abistan namamatar isan i hi’orerebaka.
25 Anh chị em là dòng dõi của các nhà tiên tri. Anh chị em đã nhận giao ước mà Thượng Đế lập với tổ tiên mình. Ngài bảo Áp-ra-ham, ông tổ của anh chị em như sau, ‘Nhờ dòng dõi ngươi mà các dân trên đất sẽ hưởng phúc.’
25 God ana’omatanen dinab biyahine nan i kwa isa, naatu obaibasit iti boun kwafafaram God bai uwatanah bairi hibasit ana veya, Abraham isan iti na’atube eo, ‘O wawaw wanawanahimaim sabuw tafaram wanawanan tutufin etei boro baigegewasin hinab.’
26 Thượng Đế đã khiến Chúa Giê-xu sống lại và trước hết sai Ngài đến để ban phúc lành cho anh chị em bằng cách giúp cho mỗi anh chị em quay khỏi điều ác.”
26 Imih God ana bai’akirayan orot rubin iyafar kwa isa wan na, anayabin God ana kok i kwa baigegewasin tit naatu kwa ta’ita’imon a ef kakafihine kwama’am kwatamatabir maiye isan.”
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Atos 3, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.