Atos 21

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Từ giã họ, chúng tôi đi thuyền thẳng đến đảo Cốt. Hôm sau chúng tôi đến tỉnh Rốt, rồi từ đó đi qua Ba-ta-ra.
1 Nati’imaim aotuturih naatu aihamiyih hima aki wa abai mutufor arabon ana tafaram Kos atit; mar to ana Rodes atit, nati’imaim aikofan ana Patara atit.
2 Ở Ba-ta-ra chúng tôi thấy một chiếc thuyền sắp giương buồm qua Phê-ni-xi, nên chúng tôi liền đáp thuyền đi.
2 Wa ta au Fonisia inan atita’ur aitafabon abai atit are arabon.
3 Chúng tôi đi gần đảo Chíp, nhìn thấy đảo ấy về hướng Bắc, chúng tôi rẽ phải và đi thẳng qua Xy-ri. Chúng tôi dừng lại ở thành Tia, vì thuyền cần xuống hàng tại đó.
3 Yan ararabon anuwariy Cyprus a’itin naatu ai beyaw na’atune bat aki au Syria arabon ana Taiya imaim arun wa aiyut sawar hitarsuwai.
4 Ở thành Tia, chúng tôi gặp vài tín hữu nên ở lại thăm họ một tuần. Được Thánh Linh mách bảo, họ khuyên Phao-lô không nên lên Giê-ru-sa-lem.
4 Nati’imaim bai’ufununayah afa atita’ourih fur ta’imon bairi ama. Naatu Anun Kakafiyin sabuw hai tur eowen Paul hitimatanuw, saise au Jerusalem men tayen.
5 Sau khi thăm viếng xong, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Tất cả tín hữu, luôn cả đàn bà và trẻ con, đều đi ra ngoài thành phố để tiễn chúng tôi. Ai nấy cùng quì nơi bãi biển để cầu nguyện,
5 Baise bairi ama na fur yomanin tit, ai veya baib ufunamaim, ai hamiyih aki ai ef arura’ah maiye. Bai’ufununayah a’aawah natunatuh etei bairi hinawiy bar merar ai tumar ana tor dones yan are imaim sui ayowen ayoyoban.
6 xong chia tay nhau, chúng tôi lên tàu, còn các tín hữu về nhà.
6 Imaibo bairi abi’otututuren ufunamaim, wa afe’en ayen, naatu i hai ubar himatabir maiye hin.
7 Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình từ Tia đến Tô-lê-mai. Chúng tôi ghé qua chào thăm các tín hữu và ở với họ một ngày.
7 Taiya’ane wa abai anan i Polemais imaim wa aiyut, nati’imaim taiti baitumatumayah hai merar ayi bairi veya ta’imon ama.
8 Hôm sau chúng tôi rời Tô-lê-mai đi qua Xê-xa-rê. Chúng tôi ghé thăm nhà mục sư Phi-líp, một trong bảy chức viên.
8 Marto ai hamiyih hima aki ana Seseria atit, binanuyan orot Philip ana baremaim bairi ama. Philip i Jerusalemamaim orot 7 hirurubinih i orot ta.
9 Ông có bảy cô con gái nói tiên tri nhưng chưa lập gia đình.
9 I natunatun baibitar etei kwafe’en biyah numih God ana tur orerereb isan ana usar hibai hima’am.
10 Sau khi ở lại đó ít lâu thì có một nhà tiên tri tên A-ga-bút từ miền Giu-đia đến.
10 Seseria imaim veya bai’ab na’atube ama’am ufunamaim dinab orot wabin Agabus Judea’ane natit.
11 Ông mượn nịt lưng của Phao-lô, rồi tự trói tay chân mình lại và bảo rằng, “Thánh Linh bảo, ‘Người Do-thái sẽ trói người có nịt lưng nầy giống y như thế nầy. Rồi họ sẽ giao người ấy cho những người không phải Do-thái.’”
11 Na aki biyai tit basit Paul ana kikir bai i taiyuwin an uman iutatanen naatu eo, “God Anun Kakafiyin iti na’atube eo, Orot iti kikir matuwan Jerusalemamaim Jew sabuw boro iti na’atube isan hinasinaf hinab Eteni Sabuw hinitih.”
12 Nghe vậy, tất cả chúng tôi và các anh em van nài Phao-lô đừng nên đi lên Giê-ru-sa-lem.
12 Aki iti tur anonowar ana maramaim sabuw nati’imaim hima’am bairi ai fefeyan ayai Paul au Jerusalem na isan a’otan.
13 Nhưng Phao-lô đáp, “Tại sao anh chị em khóc lóc để làm tôi nao núng? Không những tôi bằng lòng chịu trói ở Giê-ru-sa-lem mà còn sẵn lòng chết vì Chúa Giê-xu nữa!”
13 Baise Paul iyafuti eo, “Kwa aisim iti na’atube kwao kwarerey ayu dogorou ana babanin kwabitin? Ayu i men buwu fatumu akisin isan abogaigiwasomih, baise Jerusalemamaim Regah Jesu wabinamaim morob isan auman abogaigiwas.”
14 Vì không thể thuyết phục Phao-lô bỏ ý định lên Giê-ru-sa-lem, nên chúng tôi không van nài nữa và chỉ nói, “Nguyện ý Chúa được thành tựu.”
14 Yan baikitabirin isan asinaf, baise men karam. Imih aibagun naatu ao, “Regah ana kok na’atube namatar.”
15 Sau đó, chúng tôi chuẩn bị lên đường đi Giê-ru-sa-lem.
15 Veya bai’ab na’atube nati’imaim ama’am ufunamaim ai sawar abobuna au Jerusalem amisir.
16 Một số tín hữu từ Xê-xa-rê cùng đi với chúng tôi và đưa chúng tôi đến nhà Na-xon để tạm trú. Ông nầy người gốc đảo Chíp và là một trong những tín hữu đầu tiên.
16 Seseria’amaim bai’ufununayah afa hinawiyi bairi ana orot Mason ana baremaim atit, iti orot ana tafaram i Cyprus, naatu i auman marasika baitumatumayan matar ma’am.
17 Các tín hữu ở Giê-ru-sa-lem rất mừng gặp lại chúng tôi.
17 Ayen ana Jerusalem atitit ana veya baitumatumayah nati’imaim hima’am hiyasisir ai merar hiyi.
18 Hôm sau Phao-lô cùng đi với chúng tôi đến thăm Gia-cơ và các trưởng lão ở đó.
18 Marto Paul bairi ana James a’itin naatu nati ana veya’amaim regaregah ai’in etei nati’imaim hiru’ay.
19 Phao-lô chào thăm họ và thuật lại hết những điều Thượng Đế đã làm qua mình cho những người không phải Do-thái.
19 Paul hai merar yi naatu i ana bowabow etei Ufun Sabuw wanawanahimaim God mi’itube ibais bowabow ana tur etei aneika busuruf idudur in yomanin easa’ub.
20 Nghe xong, họ đều ca ngợi Thượng Đế rồi nói với Phao-lô, “Anh ơi, anh đã thấy hàng ngàn người Do-thái trở thành tín hữu. Những tín hữu nầy cho rằng cần phải tôn trọng luật Mô-se.
20 Eo hinonowar ufunamaim etei’imak God ana merar hiy hibora’ara’ah. Imaibo Paul isan hio, “Taiu inaso’ob Jew moumurih na’in thousand ana fofonin hina baitumatumayah himatar. Baise etei’imak tekokok i ofafar hinabukikin hinabosiyasiyar.
21 Họ đã nghe đồn rằng anh dạy cho người Do-thái đang sống ở giữa vòng người không phải Do-thái, là hãy bỏ luật Mô-se. Họ cũng nghe đồn rằng anh bảo họ không cần cắt dương bì cho con cái và không cần giữ tập tục Do-thái làm gì.
21 Baise iti’imaim tur i iti na’atube hinowar, O i Jew sabuw iyab nati Ufun Sabuw hai tafaramamaim tema’am kubi’obaiyih Moses ana ofafar i hinihamiy, naatu hai kek hai ar men hina’afuw naatu Jew hai binanakwar men hini’ufunun.
22 Bây giờ chúng tôi phải làm thế nào? Dân chúng đã hay tin anh về.
22 Aki boro abisa ana sinaf, anayabin o ina ititit a tur i sabuw hinowaraka.
23 Cho nên anh hãy làm thế nầy: Trong chúng tôi có bốn người đã có lời hứa nguyện với Thượng Đế.
23 Imih abisa anao na’atube inasinaf? Orot etei kwafe’en i hai omatanen ta God isan hio baifaro.
24 Hãy mang bốn người nầy cùng đi và dự lễ tẩy sạch chung với họ. Anh hãy trả tiền cho họ cạo đầu. Như vậy để chứng tỏ cho mọi người thấy rằng những điều họ nghe đồn về anh không đúng và rằng anh luôn tôn trọng luật Mô-se.
24 Imih o i boro inikofanih bairi kwanan kouksouwen ana yohar wanawanan kwanarun naatu aribuh mafur o inibaiyanih aribuh hinamafur, saise o isa iti’imaim hibifufuwen sabuw boro hinaso’ob nati tur i baifuwen, anayabin i hiso’ob o i ofafar kubi’ufunun.
25 Chúng tôi đã gởi một bức thư cho các tín hữu không phải Do-thái. Thư viết như sau,
25 Baise Ufunane sabuw baitumatumayah isah, aki fef ta ai yafar in hai tur a’owen bay uma matamatar isah hisisibor men hinaa, masanuw rara auman men hinaa, o for sikah birabir men hinaa naatu men hina’in hinisesebar kwanekwan.”
26 Hôm sau Phao-lô mang bốn người đi và cùng dự lễ tẩy sạch với họ. Rồi ông vào đền thờ và loan báo lúc nào thì những ngày tẩy sạch chấm dứt. Vào ngày cuối, mỗi người sẽ dâng một của lễ.
26 Marto Paul orot buwih bairi hai binanakwar eo na’atube kousouwih isan hirun, orot kwafe’en hikukusouwih i auman kusouw. Imaibo i na Tafaror Bar hai tur eowen veya biy boro kouksouwen ana yomanin nasawar naatu siwar orot ta’ita’imon isah hinasibor.
27 Khi bảy ngày ấy gần qua, thì có mấy người Do-thái từ Tiểu Á đến, thấy Phao-lô trong đền thờ. Họ xúi dân gây náo loạn và túm bắt Phao-lô.
27 Kousouwen in fur ta’imon yomanin tit baisawarinamih auman Jew sabuw afa Asia wanawanane hina hima’am Paul Tafaror Baremaim hi’itin. Sabuw kou’ay gagamin na’in hikura’ara’ahih himisir Paul bain bai’a’afiyin isan hinunuw,
28 Họ la lên, “Hỡi dân Ít-ra-en, hãy đến tiếp tay! Đây là tên đã đi khắp nơi dạy người ta chống lại luật Mô-se, chống lại dân ta và chống lại đền thờ nầy. Bây giờ hắn vào đây mang theo mấy người Hi-lạp làm dơ bẩn nơi thánh nầy!”
28 hitar koukuw hi’af hio, “Israel Oro’orot kwana kwaibaisi! Iti orot efan etei remor ana bai’obaiyenamaim it ata sabuw isah tur kakafin maiyow eo, naatu ata ofafar baihamiyin isan eo’o, naatu iti Tafaror Bar wabin ebi’afiy. Naatu kakafin gagamin anababatun sisinaf i kwana’itin, Ufunane Sabuw buwih hina hirun ata Bar Gagamin gubagub tibitin.
29 Người Do-thái nói như thế vì họ thấy Trô-phi-múc, người gốc Ê-phê-sô, cùng đi với Phao-lô ở Giê-ru-sa-lem nên họ tưởng Phao-lô dẫn anh ta vào đền thờ.
29 (Iti na’atube hio anayabin Trofimus, Ephesusine nan hairi nati bar merar gagaminamaim Paul bairi hima hireremor hi’itih, naatu hinot i hibuwih bairi Tafaror Bar ana efanamaim hirun.)
30 Cả dân chúng Giê-ru-sa-lem đều xôn xao. Chúng chạy ào lại, bắt Phao-lô lôi sềnh sệch ra khỏi đền thờ. Rồi lập tức đóng các cửa đền thờ lại.
30 Nati bar merar gagamin ana sabuw etei kura’ara’ahih nan ufun hinunuw hitit Paul hibai hitain kwekwekwetar hitit Tafaror Bar gagamin ufunane hire. Naatu marta’imon etawan hihir.
31 Trong khi chúng đang định giết Phao-lô thì viên chỉ huy tiểu đoàn La-mã ở Giê-ru-sa-lem được tin báo là cả thành đang náo loạn.
31 Paul hita’asabunimih hibiwa’an, baise tur marta’imon nunuw Rome baiyowayah hai ukwarin nowar Jerusalem wanawanan i uruw giririf mamatar.
32 Ông lập tức mang một số sĩ quan và quân sĩ chạy đến chỗ dân chúng đang tụ họp. Thấy quân lính đến, thì họ thôi, không đánh Phao-lô nữa.
32 Matan kabiy baiyowayah orot afa hai ukwarih bairi buwih hinunuw hire kou’ay wanawanah hirun, sabuw kakafih baiyowayah hai orot ukwarih bairi hinan hi’itih Paul hirabirab hihamiy.
33 Viên sĩ quan chỉ huy liền tiến đến bắt Phao-lô. Ông ra lệnh cho quân sĩ lấy hai cái xích xiềng Phao-lô lại. Rồi ông hỏi lai lịch và gốc gác Phao-lô.
33 Baiyowayah hai ukwarin na Paul biyan tit bai ana orot uwih chain rou’ab hibow hifatum, imaibo ibatiyih, “Iti orot i yait naatu abisa sinaf?”
34 Một số người trong đám đông la lên thế nầy, kẻ quát lên thế khác. Vì tình hình vô cùng hỗn độn và ồn ào, viên sĩ quan chẳng biết đầu đuôi ra sao nên ông ra lệnh cho quân sĩ giải Phao-lô vào bên trong hành dinh của tiểu đoàn.
34 Sabuw kou’ay wanawanan hibatabat asir hi’af hi’o kwanekwan, baiyowayan ukwarin sawar yabin abisa isan mamatar nowar gewasomih biwa’an men karam, anayabin uruwane ra’at imih baiyowayah iuwih Paul hibai hirun baiyowayah hai bar hiyari’y.
35 Lúc Phao-lô tiến đến bực thềm thì quân sĩ phải khiêng ông vì dân chúng chực đánh đập ông.
35 Paul hibai hirun wawanamaim hitit rakit sabuw hiturafef hi’itin, basit baiyowayah Paul hibora’ah hi’abar.
36 Cả đám đông theo sau hò hét, “Giết hắn đi!”
36 Sabuw ufuh hitarkoukuw hina hio, “Kwa’asabun emorob!”
37 Lúc quân sĩ sắp đưa Phao-lô vào trong hành dinh tiểu đoàn thì ông nói với viên chỉ huy, “Tôi xin phép nói vài lời với ông được không?”
37 Paul hibai baiyowayah hai bar hirur auman baiyowayah hai ukwarin isan eo, “Karam boro tur ta atao itanowar?” Baiyowayan hai orot ukwarin Paul ibatiy, “O Greek tur iso’ob?
38 Tôi cứ tưởng anh là tên Ai-cập trước đây gây rối chống chính phủ rồi dẫn bốn ngàn tên khủng bố trốn vào sa mạc dạo nào!”
38 O men Egypt orot iti boro’omo sabuw 4,000 baiyow kwanekwaneyah ibow arar yan itit gawan isan ibirakit wari’en?”
39 Phao-lô đáp, “Không! Tôi là người Do-thái quê ở Tạt-xơ, miền Xi-xi-li. Tôi là công dân của thành phố nổi danh đó. Xin cho phép tôi nói với dân chúng.”
39 Paul iya’afut eo, “Ayu i Jew orot, Tarsus imaim atufuw Silisia wanawanan, bar merar gagamin ayu i ana matuwan ama’am imih akokok o baibasit ititu sabuw isah atao.”
40 Viên chỉ huy cho phép, nên Phao-lô đứng trên bậc thềm giơ tay ra hiệu bảo dân chúng im lặng. Khi mọi người yên lặng cả rồi, Phao-lô bắt đầu nói với họ bằng tiếng Do-thái.
40 Baiyowayah hai orot ukwarin baibasit Paul itin yen wawan afe’en bat umanamaim sabuw etei rutanih etei awah fot, imaibo Paul Hebrew turamaim eo hinowar.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Atos 21, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.