Atos 14

Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI

Sair da comparação
AAI TUR GEWASIN O BAIBASIT BOUBUN
1 Ở Y-cô-ni, Phao-lô và Ba-na-ba vào hội đường theo thông lệ. Họ giảng hùng hồn đến nỗi có nhiều người Do-thái và Hi-lạp tin theo.
1 Matanfufur tisisinaf na’atube Ikonium bar meraramaim Paul, Barnabas hairi hin Kou’ay bar hirun hai tur hio’omaim Jew sabuw naatu Greek sabuw moumurih maiyow hibotabirih hina baitumatumayah himatar.
2 Nhưng một số người Do-thái không chịu tin và xúi giục những người không phải Do-thái chống lại các tín hữu.
2 Baise Jew sabuw iyab baitumatum hikwakwahir, himisir Ufun Sabuw yah hiyi hikura’ara’ahih inan himisir baitumatumayah sabuw isah yah so’ar.
3 Phao-lô và Ba-na-ba ở lại Y-cô-ni khá lâu, mạnh dạn rao giảng cho Chúa. Ngài cho thấy lời dạy về ân phúc của Ngài là thật, bằng cách cho họ quyền làm nhiều phép lạ và dấu kỳ.
3 Tur Abarayah nati’imaim manin maiyow hima, Regah ana tur men kafai birumaim hi’omih, baise tur fokarin maiyow hio hibinan. Hai tur baiturobe isan Regah fair itih ina’inan gagamih himamataren, saise sabuw hitaso’ob nati tur i Regah biyanane nan.
4 Nhưng trong thành chia phe ra. Một số theo người Do-thái, một số khác tin theo các sứ đồ.
4 Sabuw nati bar merar gagamin wanawanan hima’am hikusib rou’ab matar, sabuw turin Jew isah hin, turin Tur Abarayah isah hin.
5 Một số người không phải Do-thái và một số người Do-thái họp lại cùng với các giới cầm quyền định ngược đãi Phao-lô và Ba-na-ba bằng cách ném đá giết họ.
5 Imaibo Ufun Sabuw naatu Jew sabuw hai ukwarih bairi awah ta’imon hibasit Tur Abarayah kabayamaim rouw bai’a’afiyih isan hio.
6 Hai ông nghe tin ấy liền trốn qua Lý-trà và Đẹt-bơ, hai thành phố miền Ly-cao-ni và các vùng chung quanh.
6 Tur Abarayah tur hinonowar ana veya hibihir hin tafaram Laikonia wanawanan bar merar gagamih rou’ab, Lystra naatu Derbe imaim hitit hima. Naatu bar merar afa
7 Ở đó họ cũng rao giảng Tin Mừng.
7 nati’imaim hirun hibusuruf Tur Gewasin hibinan hiremor.
8 Tại Lý-trà có một người bị bại liệt từ lúc mới sinh, chưa bao giờ đi được.
8 Lystra wanawananamaim i orot ta an murubin ma’am. Iti orot i tutufuwaka an kakafin auman tufuw naatu men kafai reremoramih.
9 Anh nghe Phao-lô giảng, Phao-lô nhìn anh chăm chú và thấy rằng Thượng Đế có thể chữa lành được.
9 Paul eo orot nati’imaim ma nonowar, basit Paul orot ana baitumatum itin karam boro nayawas, imih Paul mutufor nuw orot itin
10 Nên Phao-lô kêu lớn, “Hãy đứng lên!” Anh nhảy đứng lên và bắt đầu bước đi.
10 naatu fanan aumetawat eaf eo, “Kumisir mutufor a yan kubat!” Orot ma’am fasi’iwa’an misir an yan bat busuruf remor.
11 Quần chúng thấy phép lạ Phao-lô làm thì kêu lớn bằng tiếng Ly-cao-ni rằng, “Các thần đã trở thành người và ở giữa chúng ta!”
11 Sabuw rou’ay gagamin na’in hima’am abisa Paul sinaf hi’i’itin basit Laikonia turamaim fanah sib hio, “Anababatun god orotobe himatar isat hina hitit!”
12 Thế là dân chúng bắt đầu gọi Ba-na-ba là Thần mộc, còn Phao-lô là Thần hỏa vì ông là diễn giả chính.
12 Naatu Barnabas wabin Zeus hiwab naatu Paul wabin Hermes hiwab anayabin Paul tur bi’ukwarin.
13 Thầy tế lễ trong đền thờ Thần mộc, gần thành phố, đem vài con bò đực và bông hoa đến cửa thành. Ông và dân chúng muốn dâng một sinh tế cho Phao-lô và Ba-na-ba.
13 Zeus ana firis, i ana Tafaror Bar gagamin i bar merar ufunane batabat, firis naatu sabuw bairi hikokok i Tur Abarayah hai sibor hitayai. Imih firis cow naatu beran bow na bar merar ana fur awanamaim tit.
14 Khi hai sứ đồ Ba-na-ba và Phao-lô nghe thế liền xé áo mình chạy đến giữa đám dân chúng la lớn,
14 Baise Barnabas, Paul hairi sabuw abisa hibiwa’an hi’itih hairi hai faifuw hiseb naatu hinunuw sabuw hai founamaim hirun hio,
15 “Các bạn làm gì vậy? Chúng tôi cũng chỉ là người như các bạn thôi. Chúng tôi mang Tin Mừng và khuyên anh chị em từ bỏ những thứ vô dụng nầy mà quay về cùng Thượng Đế hằng sống. Ngài là Đấng dựng nên trời, đất, biển và mọi vật trong đó.
15 “Kwa aisim iti kwasisinaf? aki i orot maiyow orot babin kwa na’atube. Aki iti’imaim anan aiyabin i Tur Gewasin ana binan, sawar iti hai yabin en kwanihamiyen, naatu God ma’ama wanatowan yait iti mar tafaram riy naatu sawar wanawanahimaim tema’am bimataren isan kwanamatabir.
16 Trước kia Ngài để mặc cho các dân muốn làm gì thì làm.
16 Marasika tafaram ta ta sabuw hai kok abisa hisisinaf i men rufutih,
17 Nhưng Ngài chứng minh rằng mình có thật bằng cách tỏ ra lòng nhân từ, cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, thực phẩm dồi dào và khiến lòng anh chị em đầy vui mừng.”
17 baise mar etei sawar gewasih esisinaf imaim ekukubuna i turobe. Anayabin gagub marane iwa’an ere bay ana veya’amaim ematar bay ebit naatu dogor wanawanan yasisir awan ekakaratan.”
18 Dù nói như thế, hai người cũng chỉ đủ sức cản không cho quần chúng dâng của lễ cho mình.
18 Paul, Barnabas hairi iti turamaim hisinaftobon sabuw rou’ay gagamin na’in hai siwar siboromih hibow hinan hio’otanih towa rufufurih.
19 Sau đó có mấy người Do-thái từ An-ti-ốt và Y-cô-ni xuống xúi giục dân chúng chống lại Phao-lô. Chúng ném đá Phao-lô, lôi ông ra ngoài thành, tưởng đã giết ông xong rồi.
19 Imaibo Jew sabuw hai ukwarih afa Antioch naatu Ikoniumane hinan sabuw hiora’ahih himisir Paul higam hiu, naatu kabayamaim hirab hitain hitit hin bar merar ufunane hihamiy, hinotanot i morob hirouw.
20 Nhưng lúc các tín hữu nhóm lại quanh ông, Phao-lô vùng đứng dậy và đi vào thành. Hôm sau, ông và Ba-na-ba rời đó đi qua thành Đẹt-bơ.
20 Baise bai’ufununayah hiru’ay hi’ar bebera’uh hibatabat inu’in misir matabir in bar merar tit, mar to i Barnabas hairi hin Derbe hitit.
21 Ở Đẹt-bơ, Phao-lô và Ba-na-ba giảng Tin Mừng, có nhiều người tin theo. Rồi Phao-lô và Ba-na-ba trở về Lý-trà, Y-cô-ni và An-ti-ốt,
21 Paul, Barnabas hairi Tur Gewasin Derbe wanawanan hibinan naatu bai’ufununayah moumurih na’in hibow. Imaibo himatabir maiye hin Lystra, Ikonium naatu Antioch hitit Syria wanawanan.
22 khích lệ các tín hữu của Chúa Giê-xu thêm vững mạnh trong đức tin. Hai sứ đồ cảnh cáo, “Chúng ta còn phải qua nhiều gian khổ mới được vào Nước Trời.”
22 Nati’imaim bai’ufununayah hibaisih naatu koufair hitih hi’uwih hio. “A baitumatum kwabaib imaim kwaniturobe kwanama, yababan moumurih maiyow boro tanabow, imaibo tanan God ana aiwobomaim tanarun.”
23 Cứ mỗi hội thánh họ chọn các trưởng lão, cầu nguyện và cữ ăn trong một thời gian. Các trưởng lão ấy đã tin cậy Thượng Đế, nên Phao-lô và Ba-na-ba giao phó họ cho Chúa chăm nom.
23 Ekaleisia hai kou’ay tata wanawanahimaim Paul Barnabas hairi orot ukwarih hirubinih, hibow naatu hiyohar isah hiyoyoban sawar, imaibo Regah i hai baitumatum ana’an umanamaim hiya.
24 Rồi hai ông ghé thăm miền Bi-xi-đi và đến miền Băm-phi-li.
24 Tafaram Pisidia wanawanan hi’afuw hirabon rounane hire’er ufunamaim hina Pamfilia hitit.
25 Sau khi đã giảng ở Bẹt-găm thì hai người đi xuống Át-ta-lia.
25 Naatu Perga imaim hibibinan ufunamaim hire hina Atalia hitit.
26 Từ đó họ đi thuyền qua An-ti-ốt xứ Xy-ri, nơi các tín hữu đã giao phó họ trong tay Chúa và cử họ đi ra lo công việc Ngài. Nay họ đã làm xong công tác ấy.
26 Wa imaim hibai himatabir maiye hin Antioch hitit, efan nati’imaim God ana tafafar naatu ana manaw ana kabeber hibai bowabow hibusuruf hibowabow yomanin himatabir hina nati’imaim hi’asa’ub.
27 Khi trở về An-ti-ốt, Phao-lô và Ba-na-ba mời hội thánh nhóm họp lại. Họ thuật cho cả hội thánh nghe những gì Thượng Đế đã làm qua họ và Ngài khiến cho những người không phải Do-thái cũng tin Ngài ra sao.
27 Imih hina Antioch hititit ana maramaim ekaleisia sabuw etei hi’af ayuwih hai tur hiowen mi’itube God i wanawanahimaim sinaf baitumatum ana etawan botawiy Ufun Sabuw auman isah.
28 Hai người ở lại đó khá lâu với các tín hữu.
28 Naatu bai’ufununayah bairi nati Antioch imaim bairi manin maiyow hima.

Ler em outra tradução

Comparar com outra

Estude este capítulo no WhatsApp

Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Atos 14, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.