Atos 13
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Tại hội thánh An-ti-ốt có các nhà tiên tri và giáo sư sau đây: Ba-na-ba, Xi-mê-ôn cũng gọi là Ni-gie, Lu-xi-u quê ở Xy-ren, Ma-na-en là người cùng lớn lên với vua Hê-rốt và Sau-lơ.
1 Ekaleisia Antioch wanawananamaim orot afa i dinab oro’orot naatu afa i bai’obaiyenayah, naatu orot wabih i iti: Barnabas, Simeon, wabin ta i Niger, Lucius Sairini matuwan, Manaen, Herod hairi bay ta’imon hi’aan hirara’at naatu Saul.
2 Mọi người đều thờ kính Chúa và cữ ăn một thời gian. Lúc ấy Thánh Linh bảo họ, “Hãy để riêng Ba-na-ba và Sau-lơ cho công tác đặc biệt mà ta đã giao cho họ làm.”
2 Veya ta hiyohar Regah hikwakwafir wanawanan, Anun Kakafiyin iuwih eo, “Barnabas, Saul hairi kwayasairih ayu isou, anayabin bowabow ta isan a’afih hinabowamih.”
3 Vì thế sau khi cữ ăn và cầu nguyện thì họ đặt tay trên Ba-na-ba và Phao-lô rồi cử hai người đi.
3 Naatu hiyohar hiyoyoyoban ufunamaim, umah tafah hiyara’aten fair hitih imaibo hiyafarih hitit hin.
4 Ba-na-ba và Sau-lơ được Thánh Linh sai đi, đến thành Xê-lêu-xia. Từ đó họ đáp thuyền qua đảo Chíp.
4 Barnabas Saul hairi Anun Kakafiyin ana bonawiyenamaim hina Seleucia hitit naatu wa hibai hirabon hin Cyprus imaim hitit |alt="map" src="PAULJR1.tif" size="col" ref="Acts 13.4"
5 Đến Xa-la-mi họ rao giảng Tin Mừng của Thượng Đế trong các hội đường Do-thái. Giăng Mác cùng đi để giúp đỡ họ.
5 Naatu hina Salamis hititit ana maramain Jew hai Kou’ay baremaim God ana tur hibinan, John Mark i iti bowabow wanawananamaim baibaisih isan hibai bairi hin.
6 Họ đi qua suốt đảo Ba-phô và gặp một thuật sĩ Do-thái tên Ba-Giê-xu. Hắn là một tiên tri giả
6 Nuw ana fofonin na’atube hiremor hin au waraunane bar merar wabin Pafos hitit, nati’imaim Jew orot kwerayan ma’am koun hiyen, wabin Bar-Jesus, iti i orot taiyuwin isan dinab orot erouw eo’o.
7 lúc nào cũng ở cạnh Xẹt-gu Phao-lúc, quan tổng đốc và là người rất khôn ngoan. Ông mời Ba-na-ba và Sau-lơ đến vì ông muốn nghe lời Chúa.
7 Naatu iti orot i gawan orot wabin Sergius Paulus ana of ta. Sergius i orot not wairafin, nati nuw ana gawan orot. Barnabas, Saul hairi e’af hina nanamaim hitit God ana tur nowar isan ifefeyanih.
8 Nhưng Ê-ly-ma, tay thuật sĩ, nhất định chống đối. (Ê-ly-ma là tên Ba-Giê-xu trong tiếng Hi-lạp.) Hắn tìm cách ngăn cản không cho quan tổng đốc tin theo Chúa Giê-xu.
8 Baise kwerayan wabin Elimas (wabin Greekamain) eotanih men kok gawan orot tur tanowar baitumatum tab.
9 Nhưng Sau-lơ, cũng gọi là Phao-lô, đầy dẫy Thánh Linh, nhìn thẳng vào Ê-ly-ma
9 Imaibo Saul wabin ta Paul, Anun Kakafiyin iwanasum ma’am mutufor nuw kwerayan orot itinkikin
10 và quở, “Nầy con của ma quỉ! Anh chống nghịch điều lành! Anh đầy dẫy mưu mô xảo trá, lúc nào cũng tìm cách biến sự thật Chúa thành những điều dối gạt.
10 naatu eo, “O i Demon natun! Sawar gewasih etei hai rakit wairafin i o. O i baifuwen kakafih yumatah ta ta biya awan karatan, o i mar etei Regah ana turobe kubotabiren baifuwen temamatar!
11 Giờ đây Chúa sẽ đụng đến anh, anh sẽ bị mù, không thấy gì cả trong một thời gian—đến nỗi không thấy được ánh sáng mặt trời nữa.”
11 Imih Regah uman boun boro tafamaim nare mata nifim naatu marakaw boro mar kafai men ina’itin.”
12 Quan tổng đốc thấy thế liền tin nhận Chúa vì ông sững sờ về sự dạy dỗ của Ngài.
12 Gawan orot abisa matar i’itin i itumatum, anayabin Regah ana bai’obaiyen tur nonowar i ifofofor men kafaita.
13 Phao-lô và những bạn đồng hành đáp thuyền từ Ba-phô đến Bẹt-ga, thuộc miền Băm-phi-ly. Đến đó Giăng Mác bỏ họ và trở về lại Giê-ru-sa-lem.
13 Paul ana ofonah bairi Pafos imaim wa hibai hirabon hina Perga hitit tafaram Pamfilia wanawanan. John Mark nati’imaim ihamiyih, naatu matabir maiye in Jerusalem tit.
14 Họ tiếp tục cuộc hành trình từ Bẹt-ga đến An-ti-ốt, một thành phố miền Bi-xi-đi. Vào ngày Sa-bát họ vào hội đường ngồi.
14 Baise Barnabas Paul hairi hikofan maiye hin Pisidia Antioch hitit tafaram Pisidia wanawanan. Naatu Baiyarir Ana Veya Kou’ay Bar hirun himare.
15 Sau khi người ta đọc xong luật Mô-se và các lời tiên tri thì các vị lãnh đạo hội đường hỏi Phao-lô và Ba-na-ba, “Nếu các ông có điều gì để khích lệ mọi người thì xin cứ nói đi.”
15 Buk Atamaninamaim Moses ana ofafar kikirum naatu dinab hai buk hibiyab ufunamaim. Kou’ay Bar ana ukwarih isah tur hiyafar hio, “Taitu kwa aur koufair tur ta nama’am na’at aki akokok iti sabuw kwanao hinanowar.”
16 Phao-lô đứng dậy, giơ tay lên nói, “Thưa các anh chị em Ít-ra-en và những người thờ kính Thượng Đế, xin nghe đây!
16 Paul misir umanamaim rutanih naatu busuruf eo, “Israel orot baibin naatu kwa Ufun Sabuw iyab iti’imaim kwama God kwakwafir, anao kwananowar!
17 Thượng Đế của Ít-ra-en đã chọn các tổ tiên chúng ta. Ngài khiến cho dân ta thành một dân lớn trong thời gian họ cư ngụ ở Ai-cập. Ngài đem họ ra khỏi nước ấy bằng quyền năng lớn lao của Ngài.
17 Israel Sabuw ata God uwatanah rubinih naatu nah toumanih na’atube Egypt hima’am ana veya iwa’an wabih ra’at, naatu ana fairamaim nawiyih hitit.
18 Ngài chịu đựng họ suốt bốn mươi năm trong sa mạc.
18 Naatu arar yanamaim kwamur etei 40 na’atube ba’afuwih bairi hima.
19 Thượng Đế tiêu diệt bảy dân tộc trong đất Ca-na-an rồi trao lãnh thổ ấy cho dân tộc của Ngài.
19 Tafaram seven Canaan wanawanan gurusih naatu me bai ana sabuw nowahimih itih.
20 Các việc ấy diễn ra trong vòng bốn trăm năm mươi năm.
20 Sawar iti himamatar i kwamur etei 450 na’atube wanawananamaim himatar.
21 Lúc dân chúng xin một vua, thì Ngài cho họ Sau-lơ, con của Kích. Sau-lơ thuộc chi tộc Bên-gia-min. Ông làm vua trong bốn mươi năm.
21 Naatu sabuw aiwob isan hifefeyan, God Saul bai itih orot Kish natun, Benjamin wawawan, Saul i’aiwob ma kwamur etei 40 na’atube.
22 Sau khi phế bỏ ông, Thượng Đế chọn Đa-vít làm vua họ. Ngài nói về Đa-vít như sau, ‘Ta đã tìm được trong Đa-vít, con của Giê-xê, một mẫu người mà ta muốn. Người sẽ làm theo ý ta.’
22 Naatu God Saul bobosair ufunamaim David bai Saul efanin yai. God iti na’atube eo, ‘David o Jesse natun, orot o na’atube isa i ayu au yasisir gagamin na’in, ayu abisa sinafumih akokok etei boro i nasinaf.’
23 Thượng Đế đã đưa Chúa Giê-xu, một người thuộc dòng dõi Đa-vít, đến cho dân Ít-ra-en để làm Cứu Chúa của họ đúng như Ngài đã hứa.
23 Ana’omatanen eo na’atube, orot David ana rara’ane Israel Sabuw hai baiyawasinayan God bai na.
24 Trước khi Chúa Giê-xu đến, Giăng giảng lễ báp-têm về sự ăn năn cho toàn dân Ít-ra-en.
24 Jesu nanamaim John mat na bowabow kakafih baihamiyen dogor baikitabiren bapataito bain isan busuruf eorerereb Israel sabuw tutufin etei isah.
25 Sau khi làm xong công tác, Giăng nói, ‘Các ông bà nghĩ tôi là ai? Tôi không phải là Chúa Cứu Thế. Ngài sẽ đến sau, còn tôi không xứng đáng cởi dép cho Ngài.’
25 Naatu John ana bowabow bisawar auman sabuw iuwih eo, ‘Kwa anot ayu isou mi’itube kwanotanot? Kwanotanot ayu’uban i nati orot? En, baise orot ta ayu ufu’umaim enan, ayu men karam boro ana kwafure an ana sumasum anarufam.’
26 Thưa các anh chị em là con cháu của gia đình Áp-ra-ham và những người không phải Do-thái đang thờ phụng Thượng Đế, xin nghe đây! Tin Mừng về sự cứu rỗi nầy đã đến với chúng ta.
26 Taitu, Abraham ana niburune kwana warar kwatatain, naatu kwa Ufun Sabuw iyab God kwabiruw kwakakafiy, it isat yawas ana tur i hiyafar na tit.
27 Dân chúng Giê-ru-sa-lem và các nhà lãnh đạo không nhận biết Chúa Giê-xu là Cứu Chúa. Họ không hiểu lời các nhà tiên tri mà họ nghe đọc mỗi ngày Sa-bát. Nhưng khi họ kết tội Chúa Giê-xu, thì vô tình họ đã thực hiện các lời tiên tri.
27 Anayabin Jerusalem bar merar sabuw hai ukwarih bairi Jesu ana bowabow men hi’inan, naatu dinab oro’orot hai tur mar etei Baiyarir Ana Veya hibiyab men naniyan hibaib, imih abisa hisisinaf i tur hio inu’in na iturobe.
28 Mặc dù họ không tìm được lý do chính đáng nào để xử tử Chúa Giê-xu nhưng vẫn đòi Phi-lát giết Ngài.
28 Basit morob isan ana ef men hitita’ur, Pilate asabunin morob isan hifefeyan naatu easabun morob.
29 Khi đã thực hiện xong tất cả những gì Thánh Kinh viết thì họ đem xác Ngài xuống khỏi cây thập tự và chôn trong mộ.
29 Bukamaim abisa i isan eo na’atube hikirum inu’in hisisinaf ufunamaim, onaf afe’enane hibai hire hub wanawanan hiyai.
30 Nhưng Thượng Đế đã khiến Ngài sống lại từ trong kẻ chết!
30 Baise morobone God bora’ah misir maiye.
31 Sau đó, những người đã từng theo Chúa Giê-xu từ Ga-li-lê đến Giê-ru-sa-lem nhìn thấy Chúa trong nhiều ngày. Hiện nay họ là những nhân chứng trước mặt dân chúng.
31 Naatu veya moumurih na’in sabuw iyab Galilee’ine hi’ufunun bairi hina Jerusalem hititit isah irerereb, naatu nati sabuw i boun hitit sabuw afa isah sif tirurubon.
32 Chúng tôi thuật cho anh chị em Tin Mừng về lời mà Thượng Đế hứa cùng các tổ tiên chúng ta.
32 Naatu iti tur gewasin i abisa God ata’a’agir eo’omatanih abai kwa isa anan.
33 Thượng Đế đã làm thành lời hứa ấy cho chúng ta là con cái Ngài bằng cách khiến Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết. Chúng ta đọc trong sách Thi thiên chương 2 như sau:
33 Iti tur i bai it isat ebiturobe, it i ata’a’agir natunatuh, Jesu morobone mimisiramaim. Psalm bairu’abin eo na’atube,
34 Thượng Đế đã khiến Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết, Ngài sẽ không trở lại mồ mả để thành tro bụi nữa. Ngài phán:
34 Naatu ana’an aisim God morobone bora’ah maiye mimisir, naatu boro men nihamiy maiye na’in namasamih. Nati isan ana tur iti na’atube eo,
35 Còn trong một chỗ khác, Thượng Đế phán:
35 Buk efan ta’ane eo maiye,
36 Trọn đời sống Đa-vít làm theo ý Chúa. Khi chết ông được chôn bên cạnh các tổ tiên, thân xác ông bị mục nát trong mồ mả.
36 Anayabin David ana veya’amaim God ana kok bow bisawar ufunamaim morob uwahinah sisibihimaim hiyai mas i’akir
37 Nhưng Đấng mà Thượng Đế khiến sống lại từ kẻ chết không bị mục nát trong mồ mả.
37 Baise orot yait God morobone iyawas mimisir i men mas i’akir.
38 — ausente —
38 Isan imih taitu kwananowar, iti orot Jesu wabinamaim bowabow kakafih notawiyen isan ana tur i ao’orerereb,
39 — ausente —
39 iti Jesu wabinamaim sabuw iyab tibitumatum hai bowabow kakafihine i rufamih titit anayabin Moses ana ofafaramaim boro men karam narufami.
40 Phải cẩn thận! Đừng để những gì các nhà tiên tri đã cảnh cáo xảy đến cho mình:
40 Imih kwanakaifi gewas, saise abisa dinab hio men isa hinamatar.
41 ‘Hỡi dân hay nghi ngờ, hãy nghe đây!
41 ‘Okwanekwaneyah Kwana’itin!
42 Lúc Phao-lô và Ba-na-ba rời hội đường thì dân chúng yêu cầu hai ông đến ngày Sa-bát sau giảng thêm cho họ nghe nữa.
42 Paul, Banabas hairi Kou’ay Bar hibihamiy auman sabuw hifefeyanih fur ta Baiyarir ana veya’amaim iban hitan maiye iti sawar isah hitidudur hitanowar.
43 Nhóm họp xong, nhiều người Do-thái và những người mới theo đạo Do-thái và thờ kính Thượng Đế, từ hội đường đi theo Phao-lô và Ba-na-ba. Hai người khuyên họ cứ vững tin nơi ân phúc của Thượng Đế.
43 Kou’ay Bar ana rou’ay hibihamiy ufunamaim, Jew sabuw maumurih na’in naatu sabuw iyab Jew hai kwafiren ana kakafemaim hima’am, Paul Barnabas hibi’ufununih koufair hitih God ana manaw ana kabeberamaim ma’amih hifefeyanih.
44 Ngày Sa-bát sau, hầu hết dân chúng trong thành phố đều đến nghe lời Chúa.
44 Baiyarir Ana Veya bairou’abin sabuw nati bar merar tutufin etei Regah ana tur nowaramih hina.
45 Thấy dân chúng đến đông, những người Do-thái đâm ra đố kỵ, thốt lên những lời nhục mạ và cãi vã lại những điều Phao-lô nói.
45 Baise Jew sabuw rou’ay gagamin hi’i’itin ana veya hibobowen naatu baigigimen tur hibow hitit, Paul abisa eo isan hibas.
46 Nhưng Phao-lô và Ba-na-ba nói rất mạnh dạn rằng, “Chúng tôi đã rao truyền lời của Thượng Đế cho các ông trước. Nhưng vì các ông không chịu nghe, tự cho mình không đáng nhận sự sống đời đời, cho nên chúng tôi mới quay sang các dân tộc khác.
46 Imaibo Paul, Barnabas hairi hiofok hio, “God ana tur i wantoro’ot kwa ao kwanowar, baise kwa tur i kwakwahir, taiyuw kwanunutitiy ma’ama wanatowan kwa isa men karam, isan imih abihamiy aki anan Ufun Sabuw isah.
47 Đó chính là điều Chúa dặn chúng tôi,
47 Anayabin Regah ana obaiyunen tur biti iti na’atube eo,
48 Những người không phải Do-thái nghe Phao-lô nói thế rất vui mừng và càng ham chuộng lời của Chúa. Những ai đã được lựa chọn để nhận sự sống đời đời đều tin lời ấy.
48 Ufun Sabuw iti tur hinonowar ana maramaim hiyasisir Regah ana tur hibora’ara’ah. Naatu sabuw moumurih na’in ma’ama wanatowan isan hirubinih hima’am hina baitumatumayah himatar.
49 Lời Chúa được lan truyền ra khắp xứ.
49 Naatu Regah ana tur ra’at tasasar tit nati bar merar ana fofonin etei hinowar.
50 Nhưng người Do-thái xúi giục một số các phụ nữ mộ đạo có uy tín và các giới lãnh đạo trong thành phố. Họ gây rối chống lại Phao-lô, Ba-na-ba và trục xuất hai người ra khỏi vùng ấy.
50 Baise Jew hai ukwarih himisir bar merar orot gagamih naatu God ana bowayah baibin gagamih yah hi’ora’ah Paul, Barnabas hairi isah hiwosai, naatu hinunih hitit nati bar merar ufunane hire.
51 Vì thế Phao-lô và Ba-na-ba phủi bụi khỏi chân mình rồi đi sang Y-cô-ni.
51 Basit Paul Barnabas hairi ah fofob hiru’uh re i hin Ikonium hitit.
52 Còn các tín hữu hết sức vui mừng và đầy Thánh Linh.
52 Naatu bai’ufununayah Antioch hima’am yasisir yah awan karatan naatu Anun Kakafiyin iwansumih.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Atos 13, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.