Atos 10
Thánh Kinh Bản Phổ thông (VIE2011) vs AAI
1 Ở thành Xê-xa-rê có người tên Cọt-nây, làm sĩ quan của một trung đoàn Ý, thuộc quân đội La-mã.
1 Caesarea imaim orot wabin Cornelius Rome baiyowayah hai orot ukwarin baiyow ana kou’ay wabin Italian Regiment.
2 Cọt-nây rất mộ đạo. Ông và mọi người trong nhà đều kính thờ Thượng Đế. Ông hay giúp tiền cho các người Do-thái nghèo và thường xuyên cầu nguyện với Thượng Đế.
2 Cornelius i God ana orot ta, i ana nibur tutufin etei God hikwakwafir, baibais gagamin maiyow yababan wairafih bitih, naatu mar etei God isan yoyoyoban. Cornelius eyoyoyoban|alt="Cornelius praying" src="cn01943B.tif" size="col" loc="Act 10.2" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="10.2"
3 Buổi xế chiều nọ khoảng ba giờ, Cọt-nây thấy một dị tượng. Một thiên sứ đến với ông và gọi, “Cọt-nây ơi!”
3 Veya ta rabirab three korok na’atube matan hibora’ah God ana tounamatar na run wabin su’ub eo, “Cornelius!”
4 Cọt-nây nhìn chăm chăm thiên sứ. Ông đâm ra sợ và thưa, “Thưa ngài, ngài cần gì?”
4 Cornelius matan takiyat itinkikin erebirubir auman eo, “Regah abisa kukokok?”
5 Bây giờ hãy sai vài người xuống thành Gióp-ba rước một người tên Xi-môn, cũng gọi là Phia-rơ về đây.
5 Imih boun orot afa iniyafarih hinan Joppa orot Simon, wabin ta Peter, i hinanawiy bairi hinan.
6 Ông ấy hiện trọ tại nhà một người cũng tên Xi-môn, làm nghề thuộc da, gần biển.”
6 Simon bobaituw kanabihimaim sawar yumatah ta ta sakirayan i ana baremaim bairi tema’am, ana bar tor rewan ebatabat.”
7 Sau khi thiên sứ nói chuyện với Cọt-nây đi rồi, thì ông gọi hai người đầy tớ và một người lính hầu cận cũng rất mộ đạo.
7 Basit tounamatar hairi hio inan ufut, Cornelius ana bowayah orot rou’ab naatu baiyowayah orot ta’imon e’af ayuwih. Iti baiyowayan orot auman i God ana orot, Cornelius biyan ana tafafarayan orot.
8 Cọt-nây giải thích mọi việc cho họ, rồi sai họ xuống Gióp-ba.
8 Sawar etei himamatar na’atube hai tur eowen, basit iyafarih hin Joppa hitit.
9 Trưa hôm sau khi họ gần đến thành Gióp-ba thì Phia-rơ đi lên mái nhà cầu nguyện.
9 Mar to orot efamaim hina Joppa hibiyubin auman, Peter auyit yen in bar tafan yoyoban isan.
10 Ông đói bụng thèm ăn, nhưng trong khi người ta đang làm thức ăn thì ông thấy một dị tượng.
10 Basit bayumih morob ana kok i bay taa, bay hibogaigiwas bifotamih i matan taratan.
11 Ông thấy trời mở ra và có vật gì giống như tấm khăn lớn hạ xuống đất nhưng treo bốn góc lên.
11 Mar botawiy naatu sawar ta rar gagamin na’atube umasusun kwafe’en hikuhamihamiy re me yan titit itin.
12 Trong đó gồm đủ loại thú vật, loài bò sát và chim chóc.
12 Nati wanawanan for yumatah ta ta, kok uma’ar, gabunam, naatu kutor mamu. Peter matan hibora’ah masanuw kakafih biyah gubagug auman itah|alt="Peter’s vision" src="cn01945B.tif" size="col" loc="Act 10.12" copy="©1978 David C. Cook Publishing Co." ref="10.12"
13 Rồi có tiếng bảo Phia-rơ, “Phia-rơ ơi, hãy ngồi dậy, giết chúng và ăn thịt đi.”
13 Orot fanan nowar eo, “Peter kumisir iti sawar kurouw ku’aa.”
14 Nhưng Phia-rơ thưa, “Không được đâu, thưa Chúa! Tôi chưa hề bao giờ ăn vật gì không tinh sạch hoặc dơ dáy.”
14 Baise Peter iya’afut eo, “Men karam Regah, ayu men kafai sawar iti na’atube karitanih eregubagub auman aa’umih.”
15 Tiếng nói lại bảo ông lần nữa, “Thượng Đế đã làm cho sạch những thứ nầy rồi thì chớ gọi chúng là dơ bẩn!”
15 Orot fanan iban bairou’abin e’af maiye, “Sawar abisa God eorereb gewasin rarouw men o a notamaim kakafin inarouw inao.”
16 Câu ấy được lặp lại ba lần, rồi tấm khăn liền được kéo trở về trời.
16 Sawar iti na’atube mar tounu matar, imaibo naniyan meyemeye sawar matabir maiye yen mar run.
17 Trong khi Phia-rơ đang suy nghĩ về ý nghĩa của dị tượng ấy, thì những người mà Cọt-nây sai đến đã tìm được nhà Xi-môn và đang đứng trước cửa.
17 Peter matan hibora’ah sawar iti i’itin anayabin so’ob isan kasiy ma binotanot, orot Cornelius iyafarih hinan bar hitita’ur hina fur awan hibat.
18 Họ hỏi, “Ông Xi-môn Phia-rơ có ở đây không?”
18 Hi’afariy hibatiyih hio, “Orot wabin Simon Peter iti a baremaim ema’am?”
19 Xi-môn vẫn mải suy nghĩ về dị tượng ấy thì Thánh Linh bảo, “Kìa có ba người đang tìm ngươi.
19 Peter matan hibobora’ah isan boro’ika ma binotanot, Anun Kakafiyin iu eo, “Simon, orot nah tounu o tenunuwihi.
20 Hãy đứng dậy, xuống gặp họ, đừng ngần ngại vì chính ta sai họ đến tìm ngươi.”
20 Imih kumisir kura’iy bar baban, men a inakutan baise bairi kwanan, anayabin ayu aiyafarih hina.”
21 Phia-rơ liền đi xuống gặp mấy người ấy và bảo, “Tôi là người mà các ông đang tìm. Các ông đến đây có việc gì?”
21 Peter misir ra’iy naatu iuwih eo, “Ayu orotoban iti kwa ayu kwanunuwuhu, kwa a’an aisim kwana?”
22 Họ đáp, “Có một thiên sứ thánh đã hiện ra cùng Cọt-nây, ông là sĩ quan và là một người đức hạnh, kính Chúa và được tiếng tốt với cả dân Do-thái. Thiên sứ bảo Cọt-nây mời ông xuống nhà ông ấy để nghe lời ông dạy.”
22 Hiya’afut hio, “Aki i baiyowayan orot ukwarin wabin Cornelius iyafari ana. Iti orot ana yawas i gewasin, naatu God ebibiruw, Jew sabuw etei iti orot i tekakakafiy. Tounamatar kakafiyin iu, o tifefeyani itan ana bar, saise o abisa itao’o i tanowar isan.”
23 Phia-rơ liền mời họ vào nhà và nghỉ đêm ở đó.
23 Basit Peter nah tounu buwih bar hirun bairi fai ta’imon hi’in.
24 Lúc họ đến Xê-xa-rê thì Cọt-nây đang chờ họ và đã tập họp đông đủ thân bằng quyến thuộc tại nhà.
24 Veya baitonin hina Caesarea hitit. Cornelius i ma matan ef i’itin, taintuwan afa e’af ayuwih hina ana baremaim bairi hima Peter hikakaif.
25 Khi Phia-rơ bước vào, Cọt-nây ra đón và quì dưới chân Phia-rơ để bái lạy.
25 Peter na bar rur ana maramaim, Cornelius nanamaim sun yowen kwafir re.
26 Nhưng Phia-rơ đỡ ông dậy, bảo “Xin hãy đứng dậy. Tôi cũng chỉ là người mà thôi.”
26 Baise Peter imisiruw eo, “Kumisir ayu i orot o na’atube.”
27 Lúc đang nói chuyện với Cọt-nây, Phia-rơ bước vào trong nhà thì thấy có đông người đang họp mặt.
27 Peter tur busuruf auman Cornelius hairi hirun hin bar wanawanan hitit naatu sabuw kou’ay gagamin na’in hima’am kouh yen.
28 Ông nói, “Các anh chị em biết là theo luật Do-thái thì người Do-thái không được phép giao tiếp hay viếng thăm người không phải Do-thái. Nhưng Thượng Đế đã cho tôi thấy là tôi chớ nên gọi người nào là ‘bất thánh’ hay ‘không sạch.’
28 Iuwih eo, “Kwa etei kwaso’ob Jew hai ofafar men ebibasit boro Ufun Sabuw atinanawani bairi tatitayo’ay. Baise God i’obaiyu aitin ayu men orot ta biyan karitanin o gubagub anarouw anao.
29 Vì thế mà tôi chẳng chút e ngại khi được mời đến đây. Bây giờ xin cho tôi biết lý do gì quí vị mời tôi đến.”
29 Imih ayu isou tur kwabiyafar, ayu men erekwahir auman anamih. Ayu kwa abibatiy, aisim ayu isou tur kwaiyafar ana?”
30 Cọt-nây thưa, “Cách đây bốn hôm, cũng vào giờ nầy—khoảng ba giờ chiều—khi tôi đang cầu nguyện trong nhà, bỗng nhiên có một người mặc áo quần sáng chói đứng trước mặt tôi.
30 Cornelius iya’afut eo, “Veya kwafe’en na’atube sawaraka, veya three korok na’atube rabirab au baremaim ayoyoyoban, naniyan meyemeye orot ana faifuw kwes nau’umaim bat eo,
31 Người nói, ‘Cọt-nây ơi, Thượng Đế đã nghe lời cầu nguyện của ông và đã thấy ông giúp người nghèo, nên Ngài nhớ đến ông.
31 ‘Cornelius, ayoyoban God nowar naatu a siwar sabuw yababan wairafih ibitih imaim ana not kusib.
32 Cho nên hãy sai người xuống Gióp-ba mời Xi-môn Phia-rơ đến đây. Ông ta đang ở tại nhà của một người cũng tên Xi-môn, làm thợ thuộc da ở gần biển.’
32 ‘Orot ta kwiyafar en Joppa imaim orot wabin Simon wabin ta Peter i Simon bobaituw kanabihimaim sawar ta ta sakirayan ana bar tor rewanamaim ema’am biyan etit.’
33 Cho nên tôi liền mời ông đến, và ông đến là rất phải. Bây giờ tất cả chúng tôi ở trước mặt Chúa để nghe lời Ngài bảo ông truyền cho chúng tôi.”
33 Imih o isa tur saisewat aiyafar, naatu gewasin maiyow o ina itit, naatu aki etei God nanamaim Regah sawar etei eo biyuni nowaramih ama akakaif.”
34 Phia-rơ bắt đầu nói, “Bây giờ tôi hiểu rằng Thượng Đế đối với mọi người như nhau.
34 Imaibo Peter busuruf binan eo, “Ayu bounabo aso’ob, God men orot babin ta’imon itin yan ebaibimih.
35 Bất kỳ nước nào, hễ ai thờ kính Ngài và làm điều phải thì Ngài chấp nhận.
35 Baise orot menan ta ta iyab i tibibiruw naatu abisa gewasin tisisinaf.
36 Các anh chị em biết lời của Thượng Đế đã truyền cho dân Ít-ra-en. Tin Mừng ấy là sự hòa bình đến qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ngài là Chúa của mọi người!
36 Tur God iyafar na Israel biyah titit i etei kwaso’ob, iti tur gewasin i tufuw Jesu Keriso wanawanamaim ema’am. It etei ata Regah.
37 Anh chị em đã nghe những sự việc xảy ra khắp miền Giu-đia, bắt đầu từ Ga-li-lê sau khi Giăng rao giảng cho dân chúng về lễ báp-têm.
37 Naatu kwaso’ob sawar abisa Judea wanawanan mamatar, John bapataito isan bibinan ufunamaim iti sawar i Galilee imaim busuruf.
38 Anh chị em chắc biết về Chúa Giê-xu gốc Na-xa-rét, Ngài đã được Thượng Đế ban Thánh Linh và quyền năng. Ngài đi khắp nơi làm việc phúc đức, chữa lành những kẻ bị ma quỉ thống trị vì Thượng Đế ở cùng Ngài.
38 Mi’itube Anun Kakafiyinamaim God Jesu Nazareth matuwan tafan eof nowah naatu fair tafan bisuwai i kwaso’ob. Naatu ana bowabow mi’itube run tit bow yawas gewasin sinaf, sabuw iyab afiy hai fairamaim hima’am etei biyawasih auman i kwaso’ob, anayabin God i hairi hima’am.
39 Chúng tôi được thấy những điều Ngài đã làm ở Giu-đia và Giê-ru-sa-lem, nhưng những người Do-thái ở Giê-ru-sa-lem đã giết Ngài và đóng đinh Ngài trên thập tự giá.
39 Sawar abisa Jew hai me yan naatu Jerusalemamaim sisinaf etei i aki a’itah sif arurubon. Naatu onaf afe’enamaim hikubar momorob auman i aki aso’ob.
40 Tuy nhiên đến ngày thứ ba, Thượng Đế khiến Chúa Giê-xu sống lại và hiện ra,
40 Baise veya tounu ufunamaim God morobone bora’ah maiye naatu iwa’an tit irerereb sabuw hi’itin.
41 không phải cho mọi người nhưng chỉ cho một số nhân chứng mà Thượng Đế đã chọn trước. Chúng tôi là những nhân chứng ấy, đã từng ăn uống với Ngài sau khi Ngài sống lại từ kẻ chết.
41 Men sabuw etei hi’itin, baise sabuw iyab God rurubinihiwat, nati i aki iyab morobone mimisir maiye ufunamaim bairi a’aa atomatomawat.
42 Ngài bảo chúng tôi rao giảng cho tất cả mọi người Do-thái biết rằng Chúa là Đấng mà Thượng Đế đã chọn làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ chết.
42 Naatu eobaiyuni tur gewasin sabuw etei isah ana binan hai tur ana’owen Jesu i God Rubin sabuw yawayawasih naatu murumurubih baibabatiyih isan.
43 Tất cả các nhà tiên tri đều đã làm chứng điều nầy là hễ ai tin nhận Chúa Giê-xu thì sẽ được tha tội trong danh Ngài.”
43 Dinab orot etei isan hibinan hio sabuw iyab i wabinamaim hinabitumatum boro hai bowabow kakafih nanotawiyen.”
44 Trong khi Phia-rơ nói như thế thì Thánh Linh ngự xuống trên mọi người đang nghe.
44 Peter iti na’atube bat eo inan wanawanan Anun Kakafiyin ra’iy sabuw iyab hima tur hinonowar tar gabuwih.
45 Những người Do-thái cùng đi với Phia-rơ lấy làm ngạc nhiên khi thấy Thánh Linh ngự trên những người không phải Do-thái nữa.
45 Jew baitumatumayah afa Peter bairi Joppa’ane hinan hifofofor men kafaita. God ana usar Anun Kakafiyin Ufun Sabuw auman tafahimaim isuwai re’ere isan.
46 Các tín hữu Do-thái ấy nghe họ nói các ngôn ngữ khác và ca ngợi Thượng Đế. Phia-rơ tiếp,
46 Naatu sabuw menah botabir tur ta ta hio God hibora’ara’ah.
47 “Có ai ngăn trở những người nầy làm lễ báp-têm bằng nước không? Họ cũng đã được nhận Thánh Linh giống như chúng ta vậy!”
47 “Iti sabuw boro yait harewamaim bapataito bain isan na’otanih? Anayabin Anun Kakafiyin it tabaib na’atube i auman hibaika.
48 Cho nên Phia-rơ bảo họ làm lễ báp-têm nhân danh Chúa Giê-xu. Sau đó họ mời Phia-rơ ở lại với họ thêm vài ngày.
48 Basit iuwih Jesu Keriso wabinamaim bapataito hibai, naatu Peter veya bai’ab na’atube bairi ma isan hifefeyan nati’imaim bairi hima.
Atalhos do teclado
- Capítulo anterior←
- Próximo capítulo→
- Versículo anteriork
- Próximo versículoj
- Limpar seleçãoEsc
- Esta ajuda?
Estude este capítulo no WhatsApp
Peça à IA da Bíblia Fala para explicar Atos 10, comparar traduções ou montar um estudo — tudo direto pelo WhatsApp.